Hội An trong trận lụt 1964: mấy người ngồi ở bậu cửa gác nhìn xuống, nước đã lên ngang mái hiên các hiệu buôn, dưới đường một chiếc ghe bốn người chống sào đi qua.
SỰ KIỆN · LỤT

Trận đại hồng thủy 1964

Lụt năm Thìn · năm cả phố chìm

Mốc nước mà mọi trận lụt sau này ở Quảng Nam vẫn phải đem ra so, và mốc ấy đã bị vượt vào tháng 10 năm 2025.

LỜI CHỨNG SỚM NHẤT1618 – 1622

Đã đến lụt, đã đến lụt

Giáo sĩ người Ý Cristoforo Borri sống ở Đàng TrongTÊN THƯƠNG NHÂN GỌI HỘI ANFaifoCái tên thương nhân nước ngoài ghi trong sổ sách để gọi Hội An, thường được giải thích là từ Hoài Phố (có nơi chép Hải Phố). Đó là tên một chỗ ghé buôn, không phải tên một nhượng địa: cái phố nằm dưới quyền các chúa Nguyễn, và thương nhân ở đó là nhờ chúa cho phép.“Hội An” — Wikipedia tiếng Việt từ năm 1618 đến 1622, có thời gian ở Hội An. Sách ông in ở Roma năm 1631, chép rằng về mùa mưa "nước lũ làm ngập khắp xứ, đổ ra biển, như thể đất liền và biển chỉ còn là một", cứ mười lăm hôm lại một trận, mỗi trận ba ngày. Nước thường tới bất thần. Ban chiều chưa ai nghĩ tới, sáng ra đã kéo vào tư bề và người ta bị nhốt trong nhà.

Điều Borri thấy lạ là dân ở đây mong nước lũ. Thấy mùa nước tới thì họ thăm hỏi nhau, chúc mừng nhau, hò hét nhắc đi nhắc lại "đã đến lụt, đã đến lụt". Không ai đứng ngoài cuộc vui ấy, kể cả nhà chúa. Lụt đem phù sa về cho ruộng, và trong ba ngày ấy thuyền đi được khắp các ngõ, người ta chở gỗ từ trên núi về tận nhà. Ông cũng chép một câu đáng nhớ hơn cả: nhà dựng trên hàng cột khá cao để nước ra vào tự do, và chủ nhà "đã lấy kích thước chính xác do kinh nghiệm lâu năm, của mực nước cao thấp", nên không sợ.

Trong ba ngày nước lên, xứ này theo một lệ mà Borri gọi là luật rất hào phóng: trâu bò, dê, lợn chết đuối thì chủ mất quyền, ai vớt được trước thì thuộc về người ấy. Nước vừa dâng là người ta đẩy thuyền đi vớt, vớt xong thì mở tiệc. Trẻ con chèo ra giữa đồng rung cây cho chuột rơi, vì chuột chạy lụt bám kín cành, ông chép, thay chỗ của lá và quả.

Ba ngày ấy cả xứ đi lại được bằng thuyền, nên những phiên chợ lớn nhất trong năm đặt vào đúng dịp nước lên, đông hơn mọi kỳ khác. Người ta nhân thể chở gỗ từ trên núi về, thuyền đi trong phố rồi vào tận nhà. Ruộng được nước bồi nên mỗi năm ba vụ, và Borri chép rằng ở đây không ai phải đi làm thuê để kiếm miếng ăn.

Bốn trăm năm trước, người ta đã đo nhà mình bằng trí nhớ về nước.

SỬ CHÉP1758 – 1879

Hai mươi bốn năm có lụt

Ngày 24 tháng 10 năm Cảnh Hưng 19, tức năm 1758, quan cai phủ tàu lệnh truyền cho xã Minh Hương và hội quán phải khơi cống rãnh cho thông xuống sông, đề phòng khi có nước lụt hay hỏa tai. Tờ truyền chỉ đích danh quãng đường hai bên trước chùa Cây Me. Đây là văn bản hành chính, không phải văn tả cảnh, nên nó cho biết một điều chắc chắn hơn mọi lời kể: chống lụt ở Hội An là việc của nhà nước từ thời chúa Nguyễn.

Một khảo cứu rút từ sử nhà Nguyễn đếm được bão hoặc lụt tràn tới Quảng Nam trong hai mươi bốn năm khác nhau, từ 1825 đến 1882. Đại Nam nhất thống chí thì tóm gọn cả khí hậu xứ này trong một dòng: "mùa thu gió mát mà hay mưa lụt", các tháng tám, chín, mười thường hay mưa lụt. Luật cũ cũng tính đến trời. Mùa màng hỏng vì bão, vì lụt, vì hạn hay vì sâu thì quan huyện được xét giảm thuế cho dân, và một tập san Pháp ngữ ở Huế năm 1919 còn chép lại nguyên cách tính ấy.

Sử chép luôn cả cái giá. Trận tháng chín năm 1879, bốn huyện Hòa Vang, Diên Phước, Duy Xuyên, Quế Sơn sập 1.503 nóc nhà, chết 122 người. Trận năm 1878 thì nước lụt sâu hơn 11 thước lần trước, gần 3 mét, hơn 9 thước lần sau, Khâm sai Hoàng Diệu phải phân phái đi chẩn cấp và tải gạo về bán.

Cái giá nặng nhất thì không nằm ở con số. Đại Nam thực lục chép rằng sau trận 1878, ở phố Hội An có người khách nước Thanh đặt ra một nơi để thu nuôi những đứa con đem bán, quan tỉnh đem việc tâu lên. Vua sai phái nhiều người chia đi phát chẩn, không nên bắt thế chấp mới bán gạo, cốt cho dân được sống cả là hơn. Về những đứa trẻ, vua nghiêm cấm người buôn nước Thanh đem chúng về nước. Ai mua để giúp người thì phải để lại ở phố, đợi sau giao trả hoặc cho chuộc về, mới là biết việc nghĩa. Trong hạt không giúp được thì tùy tình đưa đến Kinh, để nhà quan hay nhà giàu tạm mua đem về nuôi giúp. Đứa nào đã bị mang đi rồi thì sau có thuyền công đến Hương Cảng, chi của công ra chuộc về trả cho ba mẹ chúng.

BỜ KÈ3 tháng 2 năm 1917

Kè đá và ba chiếc ghe bầu

Ngày 3 tháng 2 năm 1917, Khâm sứ Trung Kỳ ký quyết định cho thi công bờ kè FaifoTÊN THƯƠNG NHÂN GỌI HỘI ANFaifoCái tên thương nhân nước ngoài ghi trong sổ sách để gọi Hội An, thường được giải thích là từ Hoài Phố (có nơi chép Hải Phố). Đó là tên một chỗ ghé buôn, không phải tên một nhượng địa: cái phố nằm dưới quyền các chúa Nguyễn, và thương nhân ở đó là nhờ chúa cho phép.“Hội An” — Wikipedia tiếng Việt, tổng chi phí 1.500 đồng tính vào ngân sách địa phương. Lý do ghi trong hồ sơ là để thoát nước kịp và chống sạt lở mùa mưa. Phố cổ nằm dọc sông, mọi con đường và con hẻm đều trổ thẳng ra bến, nên khi lũ về thì nước theo chính những con đường ấy mà tràn lên phố.

Cũng năm ấy Quảng Nam bão lụt nặng. Công ty Liên Thành cho ba chiếc ghe bầu chở gạo từ Phan Thiết ra Hội An cứu đói. Quan tỉnh báo về Huế, vua Khải Định ban cho công ty một tấm hoành phi bốn chữ "Hiếu nghĩa khả gia".

Cứu trợ đến Hội An bằng đường nước, gần nửa thế kỷ trước khi nó đến bằng đường không.

ĐỌC TRỜITrước 1975

Cái mống mọc hướng tây

Trước khi có bản tin dự báo, người Hội An đọc trời. Ngư dân xem ráng lúc mặt trời lặn: ráng vàng thì nắng, ráng trắng thì gió, ráng đỏ thì mưa to và có cơ lụt. Vào tháng mười, họ nhìn cái mống, tức cầu vồng. Mống mọc hướng đông là trời yên, mọc hướng tây là sắp lụt lớn. Người đi biển còn truyền nhau câu ngắn hơn: mống dài thì lụt, mống cụt thì mưa.

Những dấu ấy không chỉ nằm trong trí nhớ người trong phố. Chính tập san Pháp ngữ ở Huế nói trên in hẳn một bảng dấu trời do nhà nông truyền lại: kiến đắp bờ nhỏ ngang lối đi thì sắp lụt lớn, kiến lấy đất bịt cửa tổ thì sắp mưa dữ, mặt trời quầng đen thì lụt. Trong bảng ấy có đúng câu ngư dân Hội An còn nói: mống dài thì lụt, mống cụt thì mưa.

Trên bờ thì xem nước. Đến tháng chín, tháng mười âm lịch, thấy mưa vài ngày cùng gió chướng thổi ngược từ biển vào, nước trên nguồn đổ về đục ngầu mà không chảy ra biển được, dân gọi hiện tượng ấy là hàn khẩu. Thấy hàn khẩu là biết sắp lụt. Ai đọc được dấu hiệu thì báo cho cả xóm, người này truyền người kia.

Cả vùng Quảng Nam thuộc lòng một câu, mà đến giờ vẫn còn nói: "Ông tha mà bà chẳng tha, làm cho cái lụt hăm ba tháng mười".

NGÔI NHÀTrước 1975

Hai cây trính và tấm ván

Nhà gỗ Hội An có một cấu kiện tên là trính, thanh gỗ nằm ngang nối các cột cái trong cùng một bộ vì. Trính sinh ra để giằng khung nhà cho vững. Nhưng ở vùng thấp lụt, nhà một tầng thì người ta lót vài tấm ván hoặc đan tấm tre kê lên hai cây trính, thành một cái gác tạm để cất giống má và đồ đạc. Khi nước lên, chính cái gác chứa đồ ấy là chỗ trèo lên.

Nhà buôn thì khác. Họ có gác rộng, chủ nhà cắt cử người giúp việc khiêng hàng hóa xếp gọn lên trên. Nhà không có gác thì kê đồ cao trên bộ ngựa, treo giường tre lên trính, đem đồ đi gửi nơi cao ráo rồi sơ tán người già trẻ nhỏ. Ở Cẩm Kim, có nhà đắp hẳn trong vườn một cái ụ đất cao hai đến ba mét, dựng nhà tạm trên đó để cất đồ và nhốt trâu bò.

Người ta chuẩn bị gạo, muối, mắm, rau, có nhà nấu sẵn cơm ăn một hai ngày, chuẩn bị đèn dầu, nước uống, cái om lò với củi khô đã tích từ trước. Khi lụt lớn mà bếp ngập thì rải một lớp tro vào thau nhôm, đặt ông kiềng lên trên mà nấu. Hết lương thực hoặc cần cứu, họ gõ vào thùng tôn, lia đèn pin trong đêm và la to cho hàng xóm nghe.

Nước vào tận trong lòng nhà
NĂM THÌNTháng 10 – 11 năm 1964

Đại hạn trước, rồi mưa đến muộn

Năm ấy Quảng Nam trải qua đại hạn. Nước sông Thu Bồn xuống thấp chưa từng thấy. Mùa mưa rồi cũng đến, nhưng đến muộn hơn mọi năm.

Ông Thái Tế Thông và ông Nguyễn Bội Ngọc kể lại rằng trước trận lụt có một cơn bão rất lớn. Thường thì người trong phố ít lo bão, vì nhà trong phố thấp và dựa sát vào nhau, đứng vững. Cơn bão đó tốc mái nhiều nhà. Bão xong thì mưa nhiều, Hội An có vài trận lụt nhỏ, nước ứ sẵn chưa kịp rút.

Tư liệu khí tượng chép ba cơn bão liên tiếp vào bờ Việt Nam trong mười hai ngày: Iris ngày 4 tháng 11, Joan ngày 8, Kate ngày 16. Joan là cơn nặng nhất. Đến tháng mười âm lịch thì mưa dữ dội như trút, gió chướng thổi mạnh, nước thượng nguồn tràn về trên nền nước đã ứ sẵn.

Bản đồ khí tượng bề mặt ngày 8 tháng 11 năm 1964, các đường đẳng áp xoắn quanh tâm bão Joan lúc vào bờ miền Trung.Bản đồ · Wikimedia Commons · phạm vi công cộng
Bản đồ khí tượng bề mặt ngày 8 tháng 11 năm 1964, hôm bão Joan vào bờ. Joan là cơn nặng nhất trong ba cơn bão liên tiếp của tháng ấy.
NƯỚC LÊNNgày 9 tháng 11 năm 1964

Ngang mái nhà

Ngày 9 tháng 11 năm 1964, nhằm mùng 6 tháng 10 âm lịch, nước sông Thu dâng cao và lũ cuồn cuộn đổ về. Nước sông Thu BồnĐỊA ĐIỂM · SÔNGSông Thu BồnTừ khi có đồng bằng · đến nayMỗi năm sông Thu Bồn đổ ra biển khoảng 20 km³ nước, nhiều hơn mọi con sông miền Trung, và 80 đến 90% lượng ấy dồn vào bốn tháng cuối năm. Phố cổ Hội An đứng trên một cồn cát do chính con sông này bồi nên. và sông Vu Gia dồn xuống một lượt. Trạm Hội An đo được đỉnh lũ 3,40 mét, trạm Câu Lâu 5,48 mét.

Trong phố, nước theo các con đường trổ ra sông mà tràn lên, đường thành sông. Ở An Hội, Cẩm Nam, Cẩm Kim nước đứng chừng mét rưỡi. Nhà thờ tộc Nguyễn Tường ở xóm Dinh có nền cao nhất xóm mà nước vẫn ngập nửa nhà. Khu Cẩm Kim và làng gốm Nam Diêu thì nhiều ngôi nhà ngập lút mái, gần như cả làng Nam Diêu phải sơ tán, người ở lại trèo lên các lò gạch trên khu đất cao hoặc lên những chiếc ghe lớn.

Người trong phố nay đã ngoài tám mươi kể lại rằng hôm ấy họ ngồi trên gác hai nhà mình ở đường Nguyễn Thái Học, nhìn xuống thấy trâu bò, heo gà và những mái nhà tranh trôi theo dòng nước.

Tầng dưới mất hẳn, cửa chớp còn khô
CHỈ CÒN CÁI MÁINgày 9 tháng 11 năm 1964

Chỉ còn cái mái Chùa Cầu

Ông Thái Tế Thông kể lại rằng năm ấy nước lên tới mức đứng ở đầu phố nhìn về Chùa CầuĐỊA ĐIỂM · PHỐ CỔChùa CầuNgười Nhật bỏ vốn, thợ Việt dựng, làng người Hoa giữ, một vị chúa cho ba chữ. Qua tám lần hạ giải, chỗ còn gần như nguyên vẹn của cây cầu bốn trăm tuổi là cái móng. thì chỉ còn thấy cái mái. Cây cầu người Nhật dựng để bắc qua con lạch, cái cầu mà Bắc Đế Trấn VũCON NGƯỜI · THẦN LINHBắc Đế Trấn VũVị thần phương Bắc của Đạo giáo, coi giữ thủy tộc, tu bốn mươi hai năm trên núi Võ Đang rồi được người Hoa mang sang thờ trong một ngôi miếu nhỏ bắc trên cây cầu ở Hội An năm 1653, để làm cái việc mà trước đó một con cá da trơn trong thần thoại Nhật Bản vẫn quấy. ngồi trấn ở gian giữa để trị con thủy quái, hôm ấy gần như biến mất dưới chính dòng nước nó vẫn trấn.

Đến nay vẫn chưa tìm được tấm ảnh nào chụp Chùa Cầu trong trận lụt 1964.

Cảnh ấy, ngày 30/10/2025 — nước ngang mốc năm Thìn
THƯỢNG NGUỒNNgày 9 tháng 11 năm 1964

Làng Đông An

Làng Đông An nằm ở thượng nguồn sông Thu Bồn, khi ấy thuộc xã Sơn Ninh, quận Đức Dục. Chiều tối hôm đó nhiều người trong làng chạy lên nhà bà Hồ Thị Thanh vì nhà bà ở khu đất cao nhất làng. Khoảng bảy giờ tối, nước lũ nhấn chìm và cuốn phăng tất cả.

Theo sổ sách các cụ cao niên trong làng còn giữ, cả làng có hơn một nghìn bốn trăm người chết và còn vài chục người sống sót. Báo Đà Nẵng chép khác: 1.481 người chết, còn sống sót 19 người. Bà Hồ Thị Thanh mất cha mẹ, em gái, chị gái, chồng và năm đứa con của chị, không tìm thấy thi thể ai. Một người đàn ông bơi ghe qua kéo bà lên, gia đình ấy cưu mang bà mười ngày.

Chị dâu bà, bà Lương Thị Lạc, đang mang thai thì bị nước cuốn mà thoát chết. Một tháng sau bà sinh con gái, đặt tên là Phước. Đến nay cả làng vẫn làm giỗ chung, gọi là giỗ lụt. Trưởng thôn Huỳnh Bá Hạnh nói làng chọn mùng 5 tháng 10 âm lịch, còn bài báo lại chép nhà nhà thắp hương vào mùng 6.

Đồng bằng, nhìn từ chuyến bay cứu trợ
ĐẾM NGƯỜITháng 11 năm 1964

Sáu nghìn, hay hai nghìn rưỡi

Hỏi trận lụt ấy chết bao nhiêu người thì các nguồn trả lời khác nhau, và kho này không giấu chỗ khác nhau đó.

Báo Đà Nẵng dựng lại tổng số cho Quảng Nam là khoảng 6.000 người chết và mất tích, trong đó ba thôn An Toàn, Bình Kiều và Thạch Bích thuộc huyện Quế Sơn mất 5.000 người, còn huyện Đại Lộc 253 người và hơn 1.200 nhà bị trôi. Reuters khi ấy đếm ít nhất 2.500 người chết trong tỉnh Quảng Nam. Bert Fraleigh, phó giám đốc phái bộ điều hành Hoa Kỳ tại Việt Nam, đếm ít nhất 2.600 người ở tỉnh Quảng Tín. Báo Los Angeles Times ngày 13 tháng 11 năm 1964 chạy tít tổng số người chết chạm mốc 5.000.

Một dữ kiện cần đặt cạnh các con số trên: Sắc lệnh 162-NV ngày 31 tháng 7 năm 1962 chia tỉnh Quảng Nam thành hai tỉnh Quảng Nam và Quảng Tín, lấy sông Rù Rì làm ranh. Năm 1964 đó là hai tỉnh. Ngày nay là một.

"Chuyến cứu trợ lớn nhất đang diễn ra ở Quảng Ngãi"
CẦU HÀNG KHÔNG17 – 23 tháng 11 năm 1964

Bánh mì từ sàn tàu

Ngày 17 tháng 11 năm 1964, tàu USS Princeton vào vùng biển miền Trung. Sàn bay của tàu thành kho hàng, xe nâng chạy dọc những dãy bao tải, trực thăng đậu thành hàng phía sau. Dưới hầm tàu, lính đứng trên núi bao hàng, lưới cẩu trải giữa khoang. Hai người thợ bánh của tàu đẩy khay bột vào giàn lò, làm bánh mì cho người trên bờ.

Chuyến trực thăng đầu hạ xuống ngày 17. Hôm sau hàng chuyển thêm sang Quảng Tín, còn Bình Định thì phải chờ mấy ngày nữa. Ở bãi đáp Tam Kỳ, dân ra chờ hàng, người lớn đứng, trẻ con ngồi bệt trên cát, xe đạp dựng nghiêng. Báo The Saigon Post ngày 20 tháng 11 chạy tin chiến dịch cứu trợ lớn nhất trong ký ức xứ này đang diễn ra ở Quảng Ngãi. Đến khi tàu rời vùng biển miền Trung ngày 23, phi đoàn trực thăng HMM-162 đã bay 1.020 chuyến, hơn sáu trăm giờ.

Nhìn từ cửa súng trực thăng xuống, cả vùng đồng bằng chỉ còn là nước, những lạch sông loang thành vệt sáng.

Nhìn thẳng xuống hầm hàng tàu USS Princeton: một người đứng trên núi bao tải, tấm lưới cẩu trải giữa khoang.Ảnh · cruise book USS Princeton 1964–65, tr. 70 · hải quân Mỹ
Hầm hàng tàu USS Princeton nhìn từ trên xuống, người đứng trên núi bao tải, lưới cẩu trải sẵn giữa khoang.
Thợ bánh của tàu nướng bánh mì dưới khoang
Sàn bay tàu USS Princeton chất đầy bao tải, một xe nâng chạy dọc theo hàng, phía sau là dãy trực thăng đậu.Ảnh · cruise book USS Princeton 1964–65, tr. 71 · hải quân Mỹ
Sàn bay thành kho: xe nâng chạy dọc những dãy bao tải, trực thăng đậu thành hàng phía sau.
Số hiệu YS9, phi đoàn HMM-162
Chờ ở bãi đáp Tam Kỳ
HIỆU ẢNHTừ 1930

Ai chụp những tấm ảnh ấy

Bộ ảnh phố cổ ngập nước năm 1964 lưu truyền khắp mạng Việt ngữ, hầu hết không ghi ai chụp. Truy đến cùng thì về một cái tên: hiệu ảnh Lệ Ảnh, mở năm 1930, do ông Trương Trừng lập, sau truyền lại cho các con là Trương Thiệp, Trương Nguyên, Trương Thọ, Trương Chữ và Trương Phúc Loan.

Ở Hội An hồi ấy nghề ảnh là nghề đóng. Hiệu đầu tiên là Thiên Chơn Cát của ông La Doãn Ninh, mở năm 1912, dân quen gọi là hiệu ông Ba Nừng. Năm 1920 ông Thái Thiệt Cổ mở hiệu Tiêu Nhiên, năm 1928 có hiệu Huỳnh Sau. Máy ảnh, phim, giấy và thuốc đều phải nhập từ Pháp hoặc Hương Cảng. Người ngoài gia đình vào phụ việc chỉ được rửa khay thuốc và sấy ảnh, không được vào buồng tối. Nghề truyền trong nhà, cha truyền con nối.

Ông Thái Tế Thông, người kể chuyện Chùa Cầu chỉ còn cái mái, chính là chủ hiệu ảnh Vĩnh Tân và là con ông Thái Thiệt Cổ. Người nhớ trận lụt là người trong nghề ảnh.

MỐC NƯỚC1964 – 2025

Vạch sơn trên cột

Trong nhà cổ Quân Thắng, trên một cây cột gỗ hơn ba trăm tuổi, có mấy vạch sơn vàng kẻ ngang. Vạch trên cùng đề 1964. Dưới nó là 2007, 2009, 1999. Bà Diệp Ái Phương đưa tay chạm tới vạch 2009 là vừa tầm. Vạch 1964 thì phải ngước lên.

Nhà cổ Tấn Ký cũng giữ mốc nước 1964 khắc trên cột, và các đời trước trong nhà từng lắp ròng rọc để kéo đồ lên gác. Vạch sơn không phải vật kỷ niệm. Nó là cái thước, đúng như cách Borri chép bốn trăm năm trước, chỉ khác là nay kẻ thẳng lên cột cho con cháu nhìn.

Sáng ngày 30 tháng 10 năm 2025, Đài Khí tượng Thủy văn Trung Bộ đo được nước sông Thu Bồn tại Câu Lâu và Hội An cao hơn mức lũ lịch sử năm Giáp Thìn. Dự báo tại Hội An đạt 3,45 đến 3,50 mét, cao hơn mốc 1964 từ 5 đến 10 phân. Hôm ấy nước lại lên ngang mái Chùa Cầu, và người ta lại đem năm Thìn ra so.

Vạch 1964 trên cùng, đến giờ vẫn trên cùng
Ngã tư Nguyễn Thái Học – Lê Lợi
Nước xuống, trâu bò ra lại
LẦN THEO MẠCH CHUYỆN
ĐƯỢC NHẮC TỚI TRONG
NGUỒN
  1. Cristoforo Borri, "Xứ Đàng Trong năm 1621" (bản dịch 1998) — dẫn theo Nguyễn Văn Thịnh, Trung tâm QLBT Di sản Văn hóa Hội An
  2. Nguyễn Văn Thịnh, "Một vài thông tin về lụt và ứng phó với lụt ở Hội An trong lịch sử" — Trung tâm QLBT Di sản Văn hóa Hội An, 04/04/2025 (dẫn Đại Nam thực lục, Đại Nam nhất thống chí, tư liệu xã Minh Hương 1758, hồ sơ bờ kè Faifo 1917)
  3. Quốc sử quán triều Nguyễn, "Đại Nam thực lục" tập 8 (bản dịch Nxb Giáo dục 2007), tr. 316 — chép trận bão lụt Quảng Nam năm 1878, việc phát chẩn của Khâm sai Hoàng Diệu và lệnh vua về những đứa trẻ bị đem bán. Dẫn theo Nguyễn Văn Thịnh, Trung tâm QLBT Di sản Văn hóa Hội An
  4. Khiếu Thị Hoài, "Bão lụt và kinh nghiệm ứng phó với bão lụt của cư dân Hội An trước năm 1975 qua tư liệu ký ức cộng đồng" — Trung tâm QLBT Di sản Văn hóa Hội An, 28/10/2024
  5. Khánh Vân, "Tri thức dân gian về dự báo bão lụt qua tục ngữ, thành ngữ của ngư dân Hội An" — Trung tâm QLBT Di sản Văn hóa Hội An, 16/05/2022
  6. Ngọc Hương, "Kinh nghiệm trong ứng phó với bão, lụt ở Cẩm Kim - Hội An" — Trung tâm QLBT Di sản Văn hóa Hội An, 16/11/2015
  7. Trần Thanh Hoàng Phúc, "Xuyên, trính trong kiến trúc gỗ Hội An" — Trung tâm QLBT Di sản Văn hóa Hội An, 21/07/2026
  8. Võ Hồng Việt – Thái Thị Liễu Chi, "Tri thức dân gian về nhận biết, ứng phó với các hiện tượng tự nhiên trong nghề biển của cư dân Phước Trạch" — Trung tâm QLBT Di sản Văn hóa Hội An, 13/07/2026
  9. "Nhiếp ảnh — nghề đặc biệt ở Hội An" — Trung tâm QLBT Di sản Văn hóa Hội An, 08/06/2023 (hiệu Lệ Ảnh lập 1930, hiệu Thiên Chơn Cát 1912, Tiêu Nhiên 1920, Huỳnh Sau 1928)
  10. "Đặc điểm, địa mạo khu vực Hội An và lân cận (vùng cửa sông Thu Bồn)" — Trung tâm QLBT Di sản Văn hóa Hội An
  11. Robert H. Whitlow, "U.S. Marines in Vietnam: The Advisory & Combat Assistance Era 1954–1964" (Washington: U.S. Marine Corps, 1977), chương "Fall and Winter Operations" — lịch sử chính thức, chép chiến dịch cứu trợ lụt tháng 11/1964
  12. USS Princeton (LPH-5) WestPac Cruise Book 1964–65, "Seven Days in November" — U.S. Navy
  13. The Saigon Post, số ra thứ Sáu 20/11/1964 — "Largest Relief Mission Underway In Q. Ngai" (bản scan trang báo in lại trong cruise book USS Princeton)
  14. November 1964 Vietnam floods — Wikipedia (dẫn Reuters, Los Angeles Times 13/11/1964, Bert Fraleigh của US Operations Mission)
  15. Tuyết Minh, "Ký ức trận lụt lịch sử năm Thìn 1964" — Báo Đà Nẵng, 02/11/2024
  16. Lê Trung, "Đại hồng thủy 1964, ác mộng làng Đông An" — Tuổi Trẻ, 26/10/2025 (lời kể bà Hồ Thị Thanh, sổ sách làng Đông An, ngày giỗ lụt)
  17. Khiếu Thị Hoài, "Chùa Cầu trong ký ức người Hội An" — Người Đô Thị, 08/04/2022 (lời kể ông Thái Tế Thông)
  18. "Nước sông Thu Bồn vượt đỉnh lũ đại hồng thủy năm 1964" — Dân trí, 30/10/2025 (đỉnh lũ 1964: Hội An 3,40 m, Câu Lâu 5,48 m)
  19. "Hình ảnh nước lụt ở Hội An sáng nay chạm mốc lịch sử năm Thìn 1964" — Tuổi Trẻ, 30/10/2025
  20. Thái Bá Dũng – Duy Hậu, "Người Hội An lấy sơn đánh dấu mốc kỷ lục lụt mới kể từ đại họa năm Thìn 1964" — Tuổi Trẻ, 31/10/2025
  21. Dương Nguyên – Thanh Tùng, "Các mốc kỷ lục buồn trên cột nhà cổ hơn 300 năm tuổi ở Hội An" — Dân Trí, 05/11/2025 (nhà cổ Quân Thắng, bà Diệp Ái Phương)
  22. "Hình ảnh dấu tích 3 trận lụt trên di sản phố cổ Hội An" — Người Lao Động, 25/11/2025 (nhà cổ Tấn Ký, ròng rọc kéo đồ lên gác)
  23. Quảng Tín (tỉnh) — Wikipedia tiếng Việt (Sắc lệnh 162-NV ngày 31/7/1962 chia tỉnh Quảng Nam, ranh giới sông Rù Rì)
  24. Tim Doling, Việt Nam Then & Now — Hội An 1964, ngã tư Nguyễn Thái Học – Lê Lợi
  25. "Đô thị cổ Hội An" — Wikipedia tiếng Việt
  26. Hồ Tá Khanh, "Thông sử Công ty Liên Thành" (Boulogne, 1984) — dẫn theo Nguyễn Văn Thịnh, Trung tâm QLBT Di sản Văn hóa Hội An
  27. Trung tâm QLBT Di sản Văn hóa Hội An (2017), "Di sản Hán Nôm tập 3 — Tư liệu xã Minh Hương, quyển 1: Tờ truyền, trát văn và trình bẩm" (tờ truyền năm Cảnh Hưng 19, 1758) — dẫn theo Nguyễn Văn Thịnh
  28. Cristoforo Borri, “Relation de la nouvelle mission des peres de la Compagnie de Iesus au royaume de la Cochinchine”, Roma 1631, bản dịch Pháp văn — chương về khí hậu và lụt: nước ngập khắp xứ hòa vào biển, cứ mười lăm hôm một trận kéo dài ba ngày, tiếng hò “Dadi lut”, lệ vớt gia súc chết đuối, chợ phiên họp đúng mùa nước, nhà dựng trên cột cao, mỗi năm ba vụ lúa
  29. J. Lan, “Le Riz: législation, culte, croyances”, Bulletin des Amis du Vieux Huê, 1919, tr. 389–451 — luật cũ xét giảm thuế khi bão lụt hạn sâu làm hỏng mùa màng, và bảng dấu trời đoán lụt của nhà nông (kiến đắp bờ ngang lối, mặt trời quầng đen, mống dài mống cụt)
NGUỒN ẢNH
LỜI NGỎ

Bạn còn cất giữ một tấm ảnh cũ, một tờ báo xưa, hay một câu chuyện ông bà, cha mẹ kể về trận lụt năm Thìn 1964?

Gửi về Hội An Ký qua toiyeuvietnam@msn.com, để mai ni con cháu còn biết quê mình đã đi qua những mùa nước lớn ra răng, và người Hội An mình đã thương nhau, đùm bọc nhau như thế nào.

Vốn quý của Hội An, là nhờ bà con mình cùng gìn giữ.

Gửi cho Hội An Ký →