Chỗ này từng là biển
Đầu Công nguyên, mực biển ở đây lên tới mức cao nhất. Vùng cửa sông Thu Bồn khi ấy là một vụng biển loe ra như cái phễu, có lẽ ăn quá phía tây Hội An một chút rồi vòng qua phía đông Cẩm Kim và Duy Vinh. Hai nhà địa mạo Vũ Văn Phái và Đặng Văn Bào đi khảo sát khắp các xã phường Hội An cùng mấy xã Duy Xuyên, Điện Bàn, rồi xếp từng bậc đất theo tuổi. Bậc cát cao 5 đến 7 mét có tuổi từ 4.000 năm đến 6.000 năm. Người ta dựng phố trên những phần cao của bậc ấy.
Rồi biển lùi dần. Sông vẫn đẩy cát ra, sóng vun cát lại thành cồn chạy song song với bờ, và vùng nước phía trong bị ngăn khỏi biển khơi. Có lẽ đã có một quãng nơi đây trông gần giống phá Tam Giang và khúc sông Hương bây giờ. Phá ấy cạn dần, cuối cùng chỉ còn một dòng hẹp tên Cổ Cò và một khu đầm ở Trung Phường.
Thượng nguồn Thu Bồn nằm sát tâm mưa Trà My, một trong những chỗ mưa lớn nhất nước. Vì thế con sông chở nhiều nước hơn mọi con sông miền Trung, và nó chở dồn. Từ tháng 9 đến tháng 12, sông đưa đi 80 đến 90% lượng nước cả năm. Tám tháng còn lại chia nhau phần 10 đến 20%.
Ở vùng cửa, đất bằng nên thủy triều lấn ngược vào lục địa tới 40 km. Biên độ triều tại Cửa Đại bé nhất 0,8 mét, lớn nhất 1,5 mét. Mỗi lần triều rút, sức nước rút cộng với dòng sông đào thêm phần cửa, nên trong lòng Cửa Đại sâu tới hàng chục mét. Trận nước lớn nhất còn nằm trong trí nhớ người trong phố là trận lụt năm Thìn 1964
SỰ KIỆN · LỤTTrận đại hồng thủy 1964Ngày 9 tháng 11 năm 1964Mốc nước mà mọi trận lụt sau này ở Quảng Nam vẫn phải đem ra so, và mốc ấy đã bị vượt vào tháng 10 năm 2025..
Ảnh · Christophe95 · Wikimedia Commons · CC BY-SA 4.0Hàng đã đi lên đi xuống từ trước
Dọc hai bờ Thu Bồn, từ các chi lưu trên núi xuống tới hạ du, người ta đào được rất nhiều khu mộ chum Sa Huỳnh. Năm 1985, khảo cổ Việt Nam khai quật một khu như thế ở làng Tà Bhing, nằm sâu trong vùng núi Quảng Nam, bên một con suối chảy ra bến Giằng. Tà Bhing là đất người Cơ Tu. Từ năm 1997, khảo cổ Việt Nam và Nhật Bản cùng đào ở trung và thượng lưu.
Hiện vật ngoài đồng bằng ven biển và hiện vật trong núi chia đúng hai lớp sớm muộn như nhau, lớp nào cũng chuyển tiếp liên tục sang lớp sau. Trần Kỳ Phương đọc chỗ ấy ra một điều: hàng đã đi lên đi xuống dọc con sông này từ trước khi có bất cứ nhà nước nào ở đây. Sách Trung Hoa thế kỷ III chép trầm hương là sản vật quận Nhật Nam, do người bản xứ vào rừng lấy về.
Sông là một vị thần
Từ thế kỷ V, các triều Chăm thờ chính con sông này. Họ gọi nó là Mahanadi, sông Lớn, và đồng nhất nó với nữ thần Ganga, vợ thần Siva. Ngọn núi ở Mỹ Sơn là Mahaparvata, núi thiêng của Siva. Sông chảy dưới chân núi ấy rồi ra biển.
Trên một dòng nước có ba chỗ đứng: thánh địa trên nguồn, kinh thành giữa đồng bằng, cửa biển buôn bán ở cuối dòng. Mỹ Sơn có 68 tháp dựng từ cuối thế kỷ IV đến thế kỷ XIII, vào danh mục Di sản Thế giới năm 1999. Kinh thành Trà Kiệu nằm trên cùng lưu vực, tu viện Đồng Dương dựng năm 875 cũng vậy. Ba chỗ ấy nối với nhau bằng nước, không bằng đường.
Ảnh · Philip Nalangan · Wikimedia Commons · CC BY 4.0
Ảnh · DoktorMax · Wikimedia Commons · phạm vi công cộngMỗi năm sông cho xem một lần
Ngược lên trung lưu, có chỗ hai dãy núi cao chừng 500 mét kẹp lấy dòng nước, vách đá nhô ra như chắn ngang. Người ta gọi khúc ấy là Hòn Kẽm – Đá Dừng. Dưới chân vách Thạch Bích có một văn khắc Chăm mà dân quanh vùng gọi là Đá Bùa, gồm 2 dòng chữ Phạn, mỗi hàng dài 2 mét, thân chữ cao 15 cm.
Năm 1908 một tham tá người Pháp của tòa Công sứ Hội An trông thấy nó. Năm 1911, Édouard Huber ở Trường Viễn Đông Bác cổ chuyển hai hàng chữ sang mẫu tự Latinh và đọc ra tên vua Prakasadharma cùng lời ngài dâng thần Amaresa, tức Siva, ở nơi này. Huber cho biết trước đó còn một tượng linga đặt trên văn khắc, lũ đã cuốn mất. Đây là một trong 40 văn khắc Chăm rải rác khắp Quảng Nam.
Văn khắc ấy quanh năm chìm dưới nước. Đến rằm tháng 8, khi sông thường cạn, hai hàng chữ mới lộ ra, và ngư dân các vùng thượng nguồn sắm hương hoa lễ vật mang tới cúng. Người đi ghe qua đây thì hay nhắc hai câu quen thuộc: Ngó lên Hòn Kẽm Đá Dừng, thương cha nhớ mẹ quá chừng bậu ơi.
Chữ bồn không có bộ chấm thủy
Con sông đổi tên theo người gọi nó. Bia ký Chăm chép kraun Sinhapura. Thư tịch Hán Nôm chép Sài Thị giang, tức sông chợ Củi. Chợ Củi là chợ của thành Thanh Chiêm, bán củi và nước ngọt cho tàu ngoại quốc đậu ở vũng Trà Nhiêu. Đời Tự Đức, con sông mang luôn tên cái chợ và được liệt vào hàng sông lớn, ghi vào điển thờ. Đến Đồng Khánh địa dư chí thì chép Thu Bồn, nhưng viết 秋盆, chữ bồn nghĩa là cái chậu, không có bộ chấm thủy.
Năm 2006, nhà nghiên cứu Nguyễn Sinh Duy đọc hai chữ ấy thành sông nước mùa thu, dẫn bài thơ Thu Bồn dạ bạc của Lê Thánh Tông làm chứng. Nguyễn Dị Cổ đối chiếu lại các văn bản khác: quyển 13 bộ Giá Viên toàn tập của Phạm Phú Thứ nhắc tên Thu Bồn 3 lần, không lần nào có bộ chấm thủy.
Ông nêu một giả thuyết khác. Thu Bồn có thể là cách ghi âm chữ Chăm sumut drak, gốc Phạn samudra, nghĩa là biển, là bờ biển. Nếu vậy thì cái tên không nói về mùa nào cả. Nó nói về chỗ nước rộng như biển trước khi ra cửa, đúng cái vụng đã có ở đây trước thế kỷ XV.
Vào bằng cửa nào cũng phải theo nước
Tàu buôn tới Hội An
THỜI ĐẠI · THƯƠNG CẢNGFaifo, thế kỷ thương cảngk. 1523 – 1778Mỗi năm một mùa gió, tàu Nhật, tàu Hoa và tàu Bồ vào một cửa sông ở Quảng Nam rồi ở lại bốn tháng. Chúa Nguyễn thu thuế theo nơi tàu đến, cao nhất là tàu Tây dương, tám nghìn quan một chuyến vào cửa. bằng hai lối. Tàu từ phương nam vào thẳng cửa Đại Chiêm. Tàu từ phương bắc, mà nguồn cho rằng có lẽ đông hơn, vào cửa Hàn ở Đà Nẵng rồi men sông Cổ Cò xuống, khỏi phải vòng qua bán đảo Sơn Trà, đường ngắn hơn mà lại đỡ sóng gió.
Tháng 8 năm 1695, chúa Nguyễn Phúc Chu
CON NGƯỜI · CHÚA NGUYỄNNguyễn Phúc Chu1675 – 1725 · Trị vì 1691 – 1725Ông cầm quyền Đàng Trong ba mươi tư năm, mời một nhà sư Trung Hoa sang ở nửa năm rồi cho khắc lời khuyên của người ấy lên bảng treo trước phủ, đi xin một danh vị mà không được, và để lại chữ mình ký trên một quả chuông, một tấm bia, một bài tựa sách và ba chữ trên cây cầu ở Hội An. cho thuyền đưa nhà sư Trung Hoa Thích Đại Sán từ Phú Xuân vào Hội An để đáp thuyền buôn về nước. Ông chép lại chặng ấy trong Hải ngoại kỷ sự: thuyền vào vịnh Đà Nẵng nghỉ một đêm, rồi ngược sông Hàn, rẽ vào Cổ Cò. Đi cùng ông có một đoàn thuyền lương cột buồm xúm xít và tám chiếc Hồng thuyền hộ tống, nên lòng sông lúc bấy giờ hãy còn rộng.
Đại Nam nhất thống chí đo cửa Đại Chiêm rộng 160 trượng, nước lên sâu 6 thước, nước ròng sâu 4 thước 5 tấc, và gọi đó là chỗ thuyền bè Nam Bắc đến tụ hội. Lê Quang Định soạn Hoàng Việt nhất thống dư địa chí từ năm 1803 đến năm 1806 thì đo bằng tầm: theo hướng nam 862 tầm ra tới cửa Đại Chiêm, theo hướng bắc 6.558 tầm tới kênh Cổ Cò.
Một ngày đãi được một bong bóng trâu vàng
Thời chúa Nguyễn, Thu Bồn chưa phải tên con sông. Đó là tên một nguồn, tức một đơn vị hành chính thu thuế ở miền núi. Nguồn Thu Bồn thuộc huyện Duy Xuyên, có núi Trà Nô và núi Trà Tế, và nó sản ra vàng.
Lê Quý Đôn chép cách người ta lấy vàng ở đấy. Tìm được mạch ở đầu núi thì đào đất lên, dựng nhà che, chất đất cao như gò đống, múc nước tưới vào mà đãi. Có chỗ đào sâu đến ngàn thước. Một ngày tưới đãi có thể được một bong bóng trâu vàng sống, đem nộp vào công trường để nấu.
Có kẻ làm giả, tán mạt tiền Khang Hy trộn vào cho nặng cân. Người ta thử bằng hoa bông lau. Mạt tiền nhẹ thì dính hết vào hoa, hạt vàng nặng thì không bao giờ dính. Sách chép cách thử ấy rồi kết luận gọn một câu: cứ xem cách ấy đủ rõ thực hay giả.
Chúa cấp nguồn này cho Ngoại tả Trương Phúc Loan làm ngụ lộc. Loan giao cho người nhà tên Án Điện trưng thu hơn 20 năm. Một người bản quán tên Giang Huyền đút tiền cho Án Điện, mua riêng một ngọn núi, tự khai mỏ lấy, đem xuống phố Hội An bán cho khách thương mỗi năm gần 1.000 hốt, mà thuế chỉ nộp một hai phần mười. Trên sổ, cả nguồn Thu Bồn mỗi năm nộp 3 hốt 8 lạng 3 tiền 1 phân vàng.
Chỗ nào có nước qua, chỗ đó có người ngồi thu
Mở sổ thuế của Lê Quý Đôn ra thì thấy cả một dòng sông. Tuần ty Thu Bồn trên nguồn thu 516 quan 6 mạch một năm. Bến đò Thanh Chiêm giữa dòng thu 244 quan 5 mạch. Tuần ty cửa Đại Chiêm ngoài biển thu 75 quan. Chợ Hội An thu 49 quan. Trong bốn khoản ấy, khoản nặng nhất không nằm ở cửa biển mà nằm ở chỗ hàng từ rừng bước ra.
Ngoài vàng, nguồn Thu Bồn còn nộp 712 quan tiền thuế và tiền phù lưu, 120 cuốn long đằng mỗi cuốn một mạch, 2.800 cây đuốc cam lãm mỗi chiếc chín đồng kẽm, cùng sáp ong, dầu và chiếu mây. Đó là cả một khu rừng gói lại thành thứ đếm được.
Hàng của cả xứ đổ về phố Hội An bằng đường bộ lẫn đường sông. Sách chép lời một người lái buôn Quảng Đông tên Trần Dung từ Quảng Châu gặp gió thuận thì 6 ngày đã tới cửa Đại Chiêm, và xứ Quảng Nam không thiếu một thứ gì. Giá tính theo tạ, mà tạ ở Quảng Nam là 100 cân: cau 3 quan, hồ tiêu 12 quan, yến sào 200 quan, sừng tê giác 500 quan.
Bến đò Thanh Chiêm nộp thuế thì bên kia bến có người trả. Đối diện phố, qua dòng nước, là Cẩm Kim. Tương truyền tổ nghề mộc Kim Bồng từ Thanh Hóa vào, chọn đất này mà ở từ thế kỷ XVI. Làng có ba mặt giáp sông, nằm trên Thu Bồn và kề ngay thương cảng, nên gỗ từ nguồn về tới đâu là thợ nhận tới đó.
Đến nay người Cẩm Kim vẫn qua phố bằng đò ngang, một chuyến mất mấy phút. Cầu Cửa Đại bắc qua hạ lưu chỉ mới có gần đây, và nó bắc ở chỗ khác.
Ảnh · Dragfyre · Wikimedia Commons · CC BY-SA 3.0Đào lấy một dòng sông khác
Sang thế kỷ XIX, đường nước ra Đà Nẵng bồi lấp dần. Năm 1822, vua Minh Mạng sai Cai bộ Lê Đại Cương theo đường thủy đạo cũ đào vét từ xã Câu Nhí đến xã Cẩm Sa, dài hơn 850 trượng. Đào xong thì lòng sông cạn hẹp, chỉ lọt vừa một chiếc thuyền.
Năm 1824 làm lại cho ra tấm ra món. Vua ra lệnh đào con sông dài 1.647 trượng 7 thước 5 tấc, rộng 5 trượng, sâu 8 thước, giao Lê Đại Cương cùng 3.000 dân trong hạt. Mỗi người mỗi tháng được cấp 3 quan tiền và một phương gạo. Đào hơn 2 tháng thì xong. Vua đặt tên là sông Vĩnh Điện, thưởng Lê Đại Cương 80 quan tiền, hai tấm sa và một thứ kỷ lục.
Năm sau vua đi tuần Quảng Nam, thuyền ngự đi qua chính con sông ấy. Chỗ rộng không quá 2 trượng, chỗ hẹp chỉ hơn 10 thước, trong khi lệnh ban đầu định lòng nước rộng 3 trượng 4 thước. Vua giao bộ hỏi tội bọn Giám tu và Chuyên biện, rồi lấy 8.000 dân phu chia hai ban, mỗi ban một tháng đổi phiên, đào lại từ đầu.
Trương Văn Minh trông coi công trường tâu về ngày 26 tháng 6 năm ấy. Ông đã xem kỹ hình thế: cửa sông cũ bị một bãi cát chắn, từ cửa ấy đến mớm nước phải đào 823 trượng, nhưng dời cửa xuống 46 trượng thì chỉ còn 560 trượng, đỡ được 263 trượng, lại tránh được dòng cát chảy lấp cửa khẩu. Ông xin 4.000 dân phu và mướn thêm 1.000 người. Cứ 10 ngày, công trường được phát 20 quan tiền công.
Lấp chính con sông mình vừa đào
Tháng 8 năm 1858, quân Pháp đánh Đà Nẵng. Vua Tự Đức phê chuẩn cho quan tỉnh Quảng Nam thuê dân phu làm sọt tre, lấy gỗ và đổ đất lấp sông Vĩnh Điện. Lấp để nước dồn về cửa Đại Chiêm, hạ lưu cạn đi, thuyền sam bản của Tây dương không tiến vào được, quan quân chuyển sức phòng bị trên bộ.
Con sông ấy về sau không gượng lại được. Năm 1875, Cao Hữu Sung cùng Trần Văn Thiều đi khám rồi tâu rằng từ khi khai sông Vĩnh Điện, nước chảy về phía bắc, đường sông ngày càng nông, làm ruộng đi buôn đánh cá đều không lợi. Năm 1876, Nguyễn Tạo dâng sớ xin đào sông Ái Nghĩa và lấp hẳn Vĩnh Điện. Vua Tự Đức thấy việc lớn, tiền của và sức dân đã bỏ vào đấy nhiều quá, nên bắt xét lại lần nữa.
Tính từ nhát cuốc đầu năm 1822 đến tờ sớ ấy là 54 năm và ba đời vua. Dòng nước vẫn hẹp lại theo ý nó.
Thay một dòng sông bằng một tuyến đường ray
Sông Cổ Cò dài chừng 27,5 km, chạy sát bờ biển từ Đà Nẵng xuống Hội An. Qua mỗi vùng nó mang một tên riêng: sông Hà Sấu, sông Bến Trễ, sông Đế Võng. Thư tịch triều Nguyễn chép là Lộ Cảnh Giang.
Đến khoảng năm 1891, người ta vẫn đi lại dễ dàng trên đó bằng xà lúp thương mại. Ít lâu sau sông bồi tới mức thuyền đáy sâu 30 cm cũng phải chờ triều lên mới ra được Đà Nẵng. Đại Nam nhất thống chí chép gọn: nay nước sông cạn, ghe thuyền không đi được.
Người Pháp vẫn cần đường chở hàng giữa hai nơi. Không tìm ra ngân khoản để nạo vét, giữa năm 1904 chính phủ Đông DươngTÊN LIÊN BANG THUỘC ĐỊAĐông DươngCái tên người châu Âu đặt cho dải đất nằm giữa Ấn Độ và Trung Hoa, ghép từ tên hai nước lớn hai bên chứ không từ tên người ở đó. Năm 1887 người Pháp lấy nó đặt cho liên bang họ dựng lên gồm Nam Kỳ, Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Cao Miên, đến năm 1893 thêm Lào. Cho nên tư liệu thời thuộc địa nói Đông Dương là nói một bộ máy cai trị trải trên ba nước, không phải nói nước Việt Nam.French Indochina — English Wikipedia cho làm một tuyến đường sắt Decouville thay con sông. Năm 1916 tuyến ấy bị dẹp bỏ.
Một người ở nhà số 89 đường Nguyễn Thái Học kể lại rằng hồi ông còn nhỏ, quãng thập niên 1960, sông dọc đường Bạch Đằng còn sâu tới mức tàu buôn cỡ 60 m neo đậu được.
Ảnh · Christophe95 · Wikimedia Commons · CC BY-SA 4.0Một làng được ghi chép trong 123 trang
Năm 1962, nhóm nghiên cứu của John D. Donoghue vào làng chài Cẩm An ngay cửa sông và in ra một tập 123 trang. Làng có 6.491 người, cách Hội An 4,5 km, gồm bốn thôn An Bàng, Tân Thành, Phước Trạch và Tân Hiệp ngoài Cù Lao Chàm.
Từ 85 đến 90% dân làng sống bằng nghề cá. Mùa khơi kéo từ tháng hai đến tháng năm âm lịch, thuyền chạy ra xa bờ hơn 60 km mới buông lưới. Sau tháng sáu, biển động, họ quay vào đánh gần bờ bằng lưới rổ, lưới quét, mành ngang, mành cơm. Thuyền đóng bằng gỗ sao, giữ được chừng 15 năm nếu chịu khó sửa.
Việc trong làng do vạn chài xử. Vạn trưởng coi thuyền bè, coi ngư phủ, coi việc chuyên chở, và đứng chủ lễ. Mỗi thôn có một miếu thờ cá Ông cùng một khu nghĩa địa cá Ông để chôn cá voi dạt bờ. Lễ Nghinh Ông làm hai lần một năm, một lần đầu mùa khơi và một lần khi mùa khơi khép lại.
Ảnh · Hải quân Hoa Kỳ, USN 1119301 · 01/12/1966 · phạm vi công cộng
Ảnh · Seabee Museum, Hải quân Hoa Kỳ · 1967 · phạm vi công cộngNgười đàn bà mang tên con sông
Người ven sông thờ một người đàn bà mang chính tên con sông. Dị bản phổ biến kể Bà là nữ tướng người Chăm, đánh thua thì gieo mình xuống nước, thi hài trôi về làng Thu Bồn, dân làng chôn cất rồi lập lăng thờ. Dị bản khác nhấn vào việc Bà hiển linh che chở dân qua hạn hán và lụt lội.
Lăng Bà ở thôn Thu Bồn, xã Duy Tân. Trong khu lăng có một tấm bia khắc chữ Phạn cổ, được xem là dấu tích nền móng kiến trúc Chăm ở đây. Lăng từng nằm sát bờ và đã phải dời đi vì sạt lở, rồi trùng tu năm 2003 và năm 2016.
Lễ hội mở từ ngày 10 đến ngày 12 tháng 2 âm lịch, làm ở lăng dưới hạ du và ở dinh Bà trên Trung Phước, có rước sắc, rước nước, đại tế, đua thuyền và thả hoa đăng.
Ngày 30 tháng 9 năm 2020, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa lễ hội vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Bà che chở người sống nhờ sông, mà sông thì vẫn lấy dần cái lăng thờ Bà.
Thiếu cát thì sông đào lấy lòng mình
Từ năm 2011, chuỗi số liệu phù sa của lưu vực gãy một nhịp. Đó là lúc hồ Đắk Mi 4 và hồ Sông Tranh 2 hoàn thành. Sau khi có đập, lượng phù sa trung bình năm qua trạm Giao Thủy trên Thu Bồn giảm từ 6,63 xuống 5,05 triệu tấn, tức 23,8%. Bên sông Vu Gia, trạm Ái Nghĩa giảm 57,3%.
Tháng 3 năm 2021, một nhóm nghiên cứu đo lại 71 mặt cắt ngang dọc 240 km hai sông chính. So với năm 2010, đáy sâu nhất ở Ái Nghĩa tụt 1,8 mét, ở Giao Thủy tụt 3,9 mét. Mực nước tại Giao Thủy hạ 44,3%, tại Ái Nghĩa hạ 21,1%.
Cát không ra tới biển thì biển lấy lại bờ. Tính từ lúc bắt đầu sạt lở, bãi Cửa Đại đã bị xâm thực vào đất liền khoảng 160 mét. Riêng tiền ngân sách đổ vào việc giữ bờ đã hơn 250 tỷ đồng, mà qua nhiều hội thảo các chuyên gia vẫn chưa chốt được nguyên nhân cuối cùng.
Chuyện Cửa Đại chạy về phía nam thì không mới. Đối chiếu ảnh hàng không chụp năm 1964 với ảnh chụp năm 1985, Vũ Văn Phái và Đặng Văn Bào đã thấy cửa sông dịch xuống nam hàng trăm mét. Cái mới là sông không còn đủ cát để đền vào chỗ biển lấy đi.
Ảnh · Linhcandng · Wikimedia Commons · CC BY-SA 3.0- “Đặc điểm, địa mạo khu vực Hội An và lân cận (vùng cửa sông Thu Bồn)” — khảo sát thực địa toàn bộ xã phường Hội An và một số xã Duy Xuyên, Điện Bàn; dựng bản đồ địa mạo theo nguyên tắc nguồn gốc lịch sử
- Phủ biên tạp lục — trọn 6 quyển, bản dịch Ngô Lập Chí, Khoa Xã hội, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, 1959
- “Sông Vĩnh Điện, Quảng Nam qua Châu bản triều Nguyễn” — Trung tâm Lưu trữ quốc gia I; dẫn thẳng bản tấu của Trương Văn Minh 26/6 Minh Mạng 6, bản phụng chỉ của Nguyễn Hữu Thận, Đại Nam thực lục và Đại Nam nhất thống chí, kèm thác bản bia N0 19327 ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm
- “Vai trò của sông Cổ Cò với thương cảng Đà Nẵng – Hội An trong lịch sử” — có chú thích nguồn đầy đủ; dẫn Hải ngoại kỷ sự, Hoàng Việt nhất thống dư địa chí, Đại Nam nhất thống chí, bản đồ La Floche de la Carrière 1787, phúc trình Chambre consultative 1902
- “Interactions Between Uplands and Lowlands Through the Riverine Exchange Network of Central Vietnam — A Case Study in the Thu Bồn River Valley” — BiblioAsia 4(3), Thư viện Quốc gia Singapore
- “Quantifying the consequences of unsustainable sand mining and cascade dams on aspects in a tropical river basin” — Scientific Reports; đo đạc thực địa 71 mặt cắt các năm 2010, 2015, 2018, 2021 trên Vu Gia – Thu Bồn, mô hình SWAT hiệu chỉnh 1996–2010 và kiểm định 2011–2020
- “Thu Bồn có phải sông nước mùa thu?” — Báo Đà Nẵng 05/12/2015; bác cách đọc 秋湓 “sông nước mùa thu”, dẫn Đồng Khánh địa dư chí và Giá Viên toàn tập đều chép 秋盆 không bộ chấm thủy, nêu giả thuyết Thu Bồn kí âm “sumut drak” tiếng Chăm
- “Ngó lên Hòn Kẽm - Đá Dừng” — Tạp chí Văn nghệ Đà Nẵng
- “Hòn Kẽm - Đá Dừng” — Trẻ Magazine, phóng sự đường sông lên Hòn Kẽm
- “Một góc nhìn về đời sống của ngư dân Cẩm An - Hội An” — dựng trên khảo sát của John D. Donoghue, *Cam An: A Fishing Village in Central Vietnam*, 1962, 123 trang
- “Nghề mộc Kim Bồng” — Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di sản Văn hóa Hội An
- Hải ngoại kỷ sự — khảo cứu kèm trích nguyên văn bản dịch Viện Đại học Huế 1963
- “Một thập niên giải cứu biển Cửa Đại” — Báo Đà Nẵng; mức xâm thực vào đất liền và tổng ngân sách đã chi
- “Vì sao bờ biển Hội An bị sạt lở ngày càng nghiêm trọng hơn” — Tuổi Trẻ 16/12/2020
- “Ý kiến trái chiều về nguyên nhân hình thành cồn cát Cửa Đại” — VnExpress
- “Suy giảm lượng bùn cát trên lưu vực sông gây sạt lở bờ biển” — Tổng cục Khí tượng Thủy văn
- “Lễ hội Bà Thu Bồn” — Wikipedia tiếng Việt (ngày lễ, hai cơ sở thờ tự, quyết định 2731/QĐ-BVHTTDL ngày 30/09/2020, bia đá khắc Phạn ngữ ở khu vực lăng)
- “Đặc sắc lễ hội Bà Thu Bồn — Di sản Văn hóa Phi vật thể Quốc gia” — VietnamPlus
- “Development of a Spatial Decision Support System for Real-Time Flood Early Warning in the Vu Gia–Thu Bon River Basin” — Sensors 20(6):1667
- “New Perspectives in Southeast Asian and Pacific Prehistory”, chương 19 — ANU Press
- “Độc đáo Trà Kiệu!” — Báo Đà Nẵng
- “Trình độ hàng hải đáng gờm của người Chăm” — Tia Sáng
- “Sông Thu Bồn” — Wikipedia tiếng Việt
- “Đồng Khánh địa dư chí” — Wikipedia tiếng Việt (bản dịch 2003 chỉ in 19 tỉnh từ Thừa Thiên Huế trở ra; phần Quảng Nam không nằm trong đó)
- “Quảng Nam qua mộc bản, châu bản triều Nguyễn” — Báo Quảng Nam
- “Sông Thu Bồn và sông Chợ Củi” — tập hợp tư liệu về đoạn sông thầy Anrê Phú Yên qua lại
- “Xứ Quảng Nam xưa: Thời Tây Sơn” — Thanh Niên
- Tri thức dân gian về nhận biết, ứng phó với các hiện tượng tự nhiên trong nghề biển của cư dân Phước Trạch
- Devastating flooding in Vietnam (Copernicus 2025-10-27) — European Union, Copernicus Sentinel-1 imagery, CC BY — ghi công tác giả
- Sa Huynh Pottery Burial Jar — Gary Todd, CC0
- Chart of a Part of the Coast of Cochinchina between Fai-fo and Hue — East India Company, Chapman Mission, Public domain


