Gian thờ trong lòng cầu sau khi thợ lắp lại: khám thờ gỗ sơn, bàn thờ bày lư và chân đèn, hai bên là cột gỗ và vách ván.
Ảnh 2024 · Chainwit. · CC BY 4.0
CON NGƯỜI · THẦN LINH

Bắc Đế Trấn Vũ

Vị đế phương bắc trấn nước

Vị thần phương Bắc của Đạo giáo, coi giữ thủy tộc, tu bốn mươi hai năm trên núi Võ Đang rồi được người Hoa mang sang thờ trong một ngôi miếu nhỏ bắc trên cây cầu ở Hội An năm 1653, để làm cái việc mà trước đó một con cá da trơn trong thần thoại Nhật Bản vẫn quấy.

MỘT VỊ THẦN NHIỀU TÊNTrước khi tới Hội An

Người ta gọi ông bằng hơn mười cái tên

Bắc Đế Trấn Vũ còn được gọi là Bắc Phương Chân Võ Huyền Thiên Thượng Đế, Huyền Thiên Thượng Đế, Chân Võ Đại Đế, Bắc Cực Đại Đế, Huyền Vũ Thánh Quân, Khai Thiên Đại Đế, và ở cửa miệng dân gian thì thành Thượng Đế Công hay Đế Gia Công. Chừng ấy tên cho một người.

Ông là một trong những vị thần lớn của Đạo giáo. Việc của ông là thống lĩnh phương Bắc và thống lĩnh thủy tộc, tức kiêm luôn chức thủy thần.

Người xưa chia trời làm năm vùng, mỗi vùng một vị chúa mang màu riêng: Thanh đế coi phương Đông, Xích đế phương Nam, Bạch đế phương Tây, Hoàng đế ở giữa, còn phương Bắc mang màu đen, nên vị coi giữ nó gọi là Huyền đế, cũng gọi là Hắc Đế.

Trong Ngũ hành, phương Bắc ứng với Thủy. Ông giữ phương ấy, nên ông giữ nước.

SINH RA TỪ MỘT GIẤC MƠTheo kinh sách Đạo giáo

Bốn mươi hai năm trên núi Võ Đang

Kinh sách Đạo giáo chép rằng ông là phân thân lần thứ 82 của Thái Thượng Lão Quân, đầu thai làm con của Quốc vương nước Tĩnh Lạc và Hoàng hậu Thiện Thắng. Bà hoàng hậu nằm mơ thấy mình ăn mặt trăng rồi mang thai, và phải 14 tháng, hơn bốn trăm ngày, mới sinh.

Lớn lên ông từ biệt nhà, vào núi Võ Đang tu đạo. Sau 42 năm thì thành, được Ngọc Hoàng phong hiệu Thái Huyền, giao trấn giữ phương Bắc.

Đời Tống ông được phong thêm mấy lần. Năm 981 phong Dực Thạnh Tướng Quân, năm 1014 gia phong Dực Thánh Bảo Đức Chân Quân.

Tên Trấn Vũ mà người Hội An quen gọi thật ra là một cái tên tránh húy. Ông vốn là Huyền Vũ, nhưng chữ Huyền trùng tên húy của Thánh Tổ nhà Tống là Triệu Huyền Lãng, nên phải đổi.

ÔNG TỚI ĐÂY BẰNG ĐƯỜNG NÀONăm Quý Tỵ

Ông tới sau khi người Nhật đi

Năm 1635, Mạc phủ cấm hẳn người Nhật ra biển và không cho người đang ở nước ngoài trở về, trừ ai mới đi chưa đầy năm năm. Phố Nhật ở Hội AnCON NGƯỜI · CỘNG ĐỒNGThương nhân Nhật Bản1602 – 1647 · và đến nayCộng đồng người Nhật ở Hội An có ngày mở và có ngày đóng, chuyện hiếm trong kho này. Mạc phủ cấp giấy cho họ đi từ năm 1602 và gọi họ về năm 1635. Mấy người không lên tàu, và mộ của họ vẫn còn trên đất Hội An, do người Việt trông coi. mất nguồn người từ đó.

Người Hoa thì ngược lại, càng lúc càng đông và càng mạnh về buôn bán. Họ lấn dần sang khu phố người Nhật rồi nắm cả thị trường.

Năm 1653 họ dựng bên cây cầuĐỊA ĐIỂM · PHỐ CỔChùa CầuNgười Nhật bỏ vốn, thợ Việt dựng, làng người Hoa giữ, một vị chúa cho ba chữ. Qua tám lần hạ giải, chỗ còn gần như nguyên vẹn của cây cầu bốn trăm tuổi là cái móng. một ngôi miếu nhỏ, thờ Bắc Đế Trấn Vũ. Người Việt quen gọi ngôi miếu ấy là chùa, và cái tên Chùa Cầu ra đời từ chỗ gọi quen ấy.

Vị thần phương Bắc đi một quãng rất dài. Từ núi Võ Đang tới một ngôi miếu nhỏ bắc trên một con lạch ở phố cảng phương Nam.

VIỆC ÔNG NHẬN Ở ĐÂYTrước và sau 1653

Ông nhận việc của một con cá

Trước khi có ông, chỗ ấy đã có một con vật. Người Nhật gọi nó là Namazu, con cá da trơn khổng lồ nằm dưới bùn; mỗi lần nó quẫy, đất rung. Người Việt gọi nó là con Cù, người Hoa gọi là Câu Long.

Người Nhật ở Hội An kể rằng con vật ấy đầu ở tận quê nhà Nhật Bản, đuôi ở tận Ấn Độ, còn lưng thì vắt qua đúng cái khe nước ở đây. Nó cựa mình thì nước Nhật động đất và Hội An không yên. Cây cầu dựng lên như một thanh kiếm đâm xuống sống lưng nó.

Tranh khắc gỗ màu: một con cá da trơn đen khổng lồ dựng đứng, một người mặc áo xanh ngồi trên lưng nó ghì thanh kiếm cắm thẳng xuống thân cá, phía dưới là đám đông người dân giơ tay, chữ Nhật viết kín hai bên.Tranh khắc gỗ thời Edo, 1855 · không rõ tác giả · phạm vi công cộng
Thần Kashima ghìm con Namazu bằng thanh kiếm — tranh namazu-e in sau trận động đất Edo năm 1855

Bên Nhật, việc ghìm con Namazu là của thần Kashima. Thần mệt hay lơ đãng thì nó quẫy. Sau trận động đất Edo năm 1855 làm chết gần 7.000 người, tranh khắc gỗ vẽ con cá ấy bán đầy phố, gọi là namazu-e. Một nghiên cứu về tín ngưỡng này đếm được 130 đền thờ Namazu ở Nhật trước năm 1970.

Ở Hội An, việc ấy chuyển sang tay Bắc Đế. Bác sĩ A. Sallet chép lại lời tục truyền: dựng chùa và tượng thờ Bắc Đế là để chấm dứt sự quấy phá của con vật làm hang ở đó, và để chắc ăn, người ta chôn một thanh kiếm vàng trước khi thi công cùng bốn tảng đá ghi bùa yểm đặt ở bốn góc móng.

Hai tín ngưỡng, hai dân tộc, một việc: giữ cho nước đừng dâng.

ÔNG NGỒI Ở ĐÂUTrong lòng cầu

Bàn gỗ cao một mét hai, sau lưng là núi vẽ

Tượng ông đặt ở giữa chánh điện, trên một chiếc bàn gỗ cao khoảng 1,2 m. Trước mặt là bộ lư và chân đèn bằng đồng, bình hoa sứ men xanh trắng.

Ban thờ trong lòng cầu: khám thờ gỗ, đèn lồng treo hai bên đề chữ Hán, đồ thờ bày trên mặt bàn.Ảnh 2015 · P. Hughes · CC BY 4.0
Ban thờ trong lòng cầu, đèn lồng đề 平安 · 國泰

Sau lưng ông là một bức vách gỗ vẽ những đỉnh núi cao dựng đứng. Người tạc tượng cho ông mặt đỏ, tay cầm con rắn, chân đạp lên con rùa, tư thế sẵn sàng.

Chưa có trong kho
Cần hiện vật · pho tượng và đôi câu đối

Hai bên khám thờ có đôi câu đối chữ Hán, dịch ra là: hiển hách oai thần nơi khuyết Bắc, rõ ràng đức đế chốn trời Nam.

Một vị thần phương Bắc, thờ ở chốn trời Nam, trên một cây cầu.

THỨ CÒN LẠI TRONG TỦ KÍNHNay

Tấm gỗ đỏ mười hai phân

Ở Bảo tàng Văn hóa Dân gian Hội An, trong gian trưng bày tạo hình và diễn xướng dân gian, có một bức chạm gỗ gọi là lệnh phù Bắc Đế. Nó dài khoảng 12 cm, rộng 8 cm, dày 3,5 cm, ngoài phủ sơn đỏ, đáy vuông và đỉnh cong hình vòng cung.

Mặt trước khắc chìm bốn chữ Ngũ Lôi Hiệu Lệnh. Mặt sau chạm nổi một con rùa, trên lưng rùa là con rắn quấn quanh một thanh kiếm — đúng bộ ba của Bắc Đế.

Chưa có trong kho
Cần hiện vật · hai mặt tấm lệnh phù

Lệnh phù Ngũ Lôi là pháp khí của đạo sĩ, mô phỏng cái hổ phù mà hoàng đế Trung Hoa xưa dùng để điều binh. Trên tròn dưới vuông, một mặt chạm chìm một mặt chạm nổi, theo lối âm dương.

Ông Lê Huyễn giao tấm lệnh phù cho Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di sản Văn hóa Hội An năm 1997. Đến nay không có cơ sở nào xác minh nó từng là vật trấn yểm hay là pháp khí của một đạo sĩ.

Nay ít người còn nhớ nghĩa gốc của tấm gỗ ấy. Cái còn lại là ý niệm về một lá bùa mang bình an, và ngày rằm mồng một người trong phố vẫn mang hương tới trước mặt ông.

LẦN THEO MẠCH CHUYỆN
NGỰ TRONG · từ 1653Chùa CầuĐỊA ĐIỂM · PHỐ CỔNgười Nhật bỏ vốn, thợ Việt dựng, làng người Hoa giữ, một vị chúa cho ba chữ. Qua tám lần hạ giải, chỗ còn gần như nguyên vẹn của cây cầu bốn trăm tuổi là cái móng.THAY CHỖ CỦA · con NamazuThương nhân Nhật BảnCON NGƯỜI · CỘNG ĐỒNGCộng đồng người Nhật ở Hội An có ngày mở và có ngày đóng, chuyện hiếm trong kho này. Mạc phủ cấp giấy cho họ đi từ năm 1602 và gọi họ về năm 1635. Mấy người không lên tàu, và mộ của họ vẫn còn trên đất Hội An, do người Việt trông coi.ĐƯỢC MANG SANG BỞI · năm 1653Khu phố người HoaĐỊA ĐIỂM · KHU PHỐNgười Hoa tới Hội An theo gió mùa và định về theo gió mùa, nên người trong phố gọi họ là người Tàu, nghĩa là người đi thuyền tới. Rồi một số ở lại, và nhà nước phải nghĩ ra một thân phận cho họ.ĐƯỢC CẦU KHI · nước dângTrận đại hồng thủy 1964SỰ KIỆN · LỤTMốc nước mà mọi trận lụt sau này ở Quảng Nam vẫn phải đem ra so, và mốc ấy đã bị vượt vào tháng 10 năm 2025.TRẤN NƯỚC CỦASông Thu BồnĐỊA ĐIỂM · SÔNGMỗi năm sông Thu Bồn đổ ra biển khoảng 20 km³ nước, nhiều hơn mọi con sông miền Trung, và 80 đến 90% lượng ấy dồn vào bốn tháng cuối năm. Phố cổ Hội An đứng trên một cồn cát do chính con sông này bồi nên.
LỜI NGỎ

Bạn còn cất giữ một tấm ảnh cũ, một tờ báo xưa, hay một câu chuyện về Bắc Đế Trấn Vũ? Gửi về Hội An Ký qua toiyeuvietnam@msn.com. Vốn quý của Hội An, là nhờ bà con mình cùng gìn giữ.

Gửi cho Hội An Ký →