Bưu ảnh Pháp đầu thế kỷ 20: cây cầu có mái ở Faifo, người trong phố đứng dọc lan can.
ĐỊA ĐIỂM · PHỐ CỔ

Chùa Cầu

Chùa Cầu · 來遠橋 · Lai Viễn Kiều

Người Nhật bỏ vốn, thợ Việt dựng, làng người Hoa giữ, một vị chúa cho ba chữ. Qua tám lần hạ giải, chỗ còn gần như nguyên vẹn của cây cầu bốn trăm tuổi là cái móng.

CHỖ ĐẶT CẦUTrước khi có cầu

Một con lạch không có tên

Cây cầu bắc qua một con lạch mà đến đầu thế kỷ XX vẫn chưa ai gọi được chắc tên. Bác sĩ Albert Sallet, người khảo tả Faifo cho tập san Những người bạn cố đô Huế năm 1919, chép rằng con lạch ấy không có tên nào chắc chắn, có khi người ta gọi là Sông Đào, mà chữ ấy hàm ý một con kênh do người đào ra. Nước từ vùng cát Thanh Hà và Cẩm Phô chảy về, đổ ra sông lớn chỉ cách chân cầu vài mét.

Cầu bắc ở đầu một trong những phố Hoa lớn nhất Faifo. Nay lạch rộng gần mười mét, một đầu cầu mở ra đường Trần Phú, đầu kia mở ra đường Nguyễn Thị Minh Khai. Đặt cầu ở đó là đặt vào đúng chỗ hai dãy phố cần gặp nhau.

THƯƠNG CẢNGk. 1593

Những người đến theo gió mùa

Cuối thế kỷ XVI, Hội An còn mang tên FaifoTÊN THƯƠNG NHÂN GỌI HỘI ANFaifoCái tên thương nhân nước ngoài ghi trong sổ sách để gọi Hội An, thường được giải thích là từ Hoài Phố (có nơi chép Hải Phố). Đó là tên một chỗ ghé buôn, không phải tên một nhượng địa: cái phố nằm dưới quyền các chúa Nguyễn, và thương nhân ở đó là nhờ chúa cho phép.“Hội An” — Wikipedia tiếng Việt, một trong những cảng buôn đông nhất Biển Đông. Người Nhật sang buônCON NGƯỜI · CỘNG ĐỒNGThương nhân Nhật Bản1602 – 1647 · và đến nayCộng đồng người Nhật ở Hội An có ngày mở và có ngày đóng, chuyện hiếm trong kho này. Mạc phủ cấp giấy cho họ đi từ năm 1602 và gọi họ về năm 1635. Mấy người không lên tàu, và mộ của họ vẫn còn trên đất Hội An, do người Việt trông coi. dựng nhà bên bờ tây con lạch, khu phố người HoaĐỊA ĐIỂM · KHU PHỐKhu phố người HoaThế kỷ XVI · đến nayNgười Hoa tới Hội An theo gió mùa và định về theo gió mùa, nên người trong phố gọi họ là người Tàu, nghĩa là người đi thuyền tới. Rồi một số ở lại, và nhà nước phải nghĩ ra một thân phận cho họ. ở bờ đối diện. Họ bắc một cây cầu có mái để đi sang, mái ngói che kín từ đầu này sang đầu kia, đủ chắc để qua mùa mưa bão và đủ kín để lụa không ướt.

Ai bỏ tiền và ai cầm cưa thì hồ sơ di tích do Trần Ánh lập năm 1992 chép rõ: thương nhân Nhật bỏ vốn và thiết kế, thợ mộc Việt tại Hội An thi công. Cây cầu mang tên một nước, tiền của nước ấy, và tay nghề của một nước khác.

Hai đầu cầu có hai tượng khỉ và hai tượng chó, ngồi trên bệ thờ, thỉnh thoảng được trùm vải đỏ và thắp hương. Người ta giải thích rằng cầu khởi công năm Thân, làm xong năm Tuất. Bản ghi sớm nhất của lối giải thích ấy nằm trong Quảng Nam xã chí, phần làng Minh Hương, chép năm 1943 đến 1944, và chép hẳn hai năm là Giáp Thân 1644 đến Bính Tuất 1646. Sallet năm 1919 cũng chép lối giải thích ấy, nhưng nói thẳng rằng ông không đưa ra được gì về nguồn gốc lẫn ý nghĩa của mấy pho tượng. Một cách giải thích ra đời sau cái nó giải thích chừng ba trăm năm.

Con chó canh một đầu cầu
Một trong hai con chó, ảnh in năm 1919

Niên đại 1593 là tương truyền, thư tịch không có. Từ năm 1633 đến 1635, Mạc phủ cấm người Nhật vượt biển và không cho người đã ở nước ngoài quá năm năm trở về, phố Nhật ở Hội An thưa dần rồi hết hẳn. Cây cầu ở lại sau khi những người dựng nó không về được nữa.

NGÔI MIẾU1653

Ngôi chùa không có Phật

Người làng Minh Hương ghép thêm vào sườn bắc cầu một ngôi miếu nhỏ, thờ Bắc Đế Trấn VũCON NGƯỜI · THẦN LINHBắc Đế Trấn VũVị thần phương Bắc của Đạo giáo, coi giữ thủy tộc, tu bốn mươi hai năm trên núi Võ Đang rồi được người Hoa mang sang thờ trong một ngôi miếu nhỏ bắc trên cây cầu ở Hội An năm 1653, để làm cái việc mà trước đó một con cá da trơn trong thần thoại Nhật Bản vẫn quấy., vị thần phương bắc coi việc gió mưa sông nước. Chính ngôi miếu ấy làm nên cái tên dân trong phố quen gọi: Chùa Cầu. Gọi là chùa, nhưng ở đây chưa bao giờ thờ một tượng Phật nào.

Mốc 1653 lấy từ một tập tư liệu của làng tên là Minh Hương tam bảo vụ, do Trương Đình Hoanh chép năm 1972, tức là hơn ba thế kỷ sau. Đặc san chuyên đề về Chùa Cầu mà Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di sản Văn hóa Hội An in năm 2021 nói thẳng chỗ hụt ấy: hiện chưa tìm thấy tư liệu nào ghi chép cụ thể về sự kiện này.

Chuyện người trong phố kể còn lạ hơn ngôi miếu. Tương truyền dưới đất có con thủy quái, người Việt gọi là con Cù, người Nhật gọi Namazu, người Hoa gọi Câu Long. Nó nằm vắt lưng ngay dưới Hội An, cựa mình một cái là phố sạt lở, vẫy đuôi một cái là nước Nhật động đất. Đầu con Cù ở đâu thì các bản kể lại nói hai đường ngược nhau, có bản chép đầu ở Ấn Độ đuôi ở Nhật Bản, có bản chép ngược lại. Một thầy địa lý người Nhật nhận ra chỗ huyệt ấy, cho đúc một thanh kiếm vàng yểm xuống sống lưng nó rồi dựng cầu lên trên. Cù không chịu nằm yên, đổ móng xong là mưa gió cuốn đi, nên người ta phải nấu chì và bạc đổ xuống lòng khe làm móng, bên trên mới xây trụ đá.

Ban thờ trong lòng cầu, đèn lồng đề 平安 · 國泰

Con Cù có sẵn trong tiếng Việt trước khi có cây cầu này. Từ điển Đại Nam Quấc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Paulus Của, in ở Sài Gòn năm 1895, giảng: Cù là loài rồng không sừng, tục hiểu nó thường nằm dưới đất, chỗ nó dậy thành sông. Bên kia biển, người Nhật có sẵn con Namazu, cá da trơn khổng lồ nằm trong bùn, vẫy đuôi thì đất rung, và thần Kashima lấy một viên đá đè đầu nó xuống. Trước năm 1970, nước Nhật có tới 130 ngôi đền thờ Namazu, phần lớn dựng ngay những chỗ hiểm gần sông và đầm, như cột mốc cắm vào chỗ nguy hiểm.

Hai bờ biển sẵn có hai con quái vật. Ở khúc lạch này chúng nhập làm một, rồi người ta bắc cầu lên lưng.

CHỨNG CỨ SỚM NHẤT1673 – 1683

Người mù ngồi bói trên cầu

Linh mục Bénigne Vachet sinh ở Dijon năm 1641, sang Đàng Trong năm 1673 và ở lại tới khoảng 1683, phần lớn thời gian tại Faifo, nơi Hội Thừa sai Paris có một cơ sở. Trong hồi ký, ông chép rằng người mù ở Đàng Trong thường ngồi trên những cây cầu có mái để kiếm sống, ở đó họ xem bói cho bất cứ ai đưa họ hai đồng liards.

Rồi ông kể một chuyện. Vachet nhờ một người lính trẻ theo đạo, giọng nghe như đàn bà, đến thử tài ông thầy bói mù ngồi trên cầu. Thầy đoán bà đang mang thai một đứa con trai. Người lính tát ông ta một cái suýt hất xuống sông. Việc đưa lên tới chúa Hiền Vương, cả triều bật cười, chúa thưởng tiền rồi cho về. Vachet kết rằng suốt quãng thời gian còn lại ông ở Đàng Trong, không còn thấy người mù nào trên cây cầu của chúng tôi nữa.

Linh mục Léopold Cadière công bố đoạn hồi ký này năm 1920 và lập luận rằng ở Faifo trước nay chưa bao giờ có quá một cây cầu có mái, nên chuyện phải xảy ra trên chính cây cầu Nhật. Ông định niên đại nó vào quãng sau năm 1675.

Lòng cầu: lối đi ở giữa, hai bên hành lang nâng cao

Chứng cứ thành văn sớm nhất về Chùa Cầu không nói cầu dựng năm nào. Nó chỉ cho biết một điều chắc hơn: cây cầu khi ấy đang có người ngồi bói trên đó.

LỄ ĐẶT TÊN1686 – 1719

Cầu đón bạn phương xa

Năm 1686, Đỗ Bá vẽ cây cầu vào Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư và chú bên cạnh ba chữ 會安橋, cầu Hội An. Cuối thế kỷ XVIII, Phạm Đình Hổ vẽ lại nó trong tập Càn khôn nhất lãm. Cây cầu vào bản đồ trước khi vào sử.

Năm 1695, thiền sư Thích Đại Sán người Quảng Đông nhận lời mời của chúa Nguyễn Phúc ChuCON NGƯỜI · CHÚA NGUYỄNNguyễn Phúc Chu1675 – 1725 · Trị vì 1691 – 1725Ông cầm quyền Đàng Trong ba mươi tư năm, mời một nhà sư Trung Hoa sang ở nửa năm rồi cho khắc lời khuyên của người ấy lên bảng treo trước phủ, đi xin một danh vị mà không được, và để lại chữ mình ký trên một quả chuông, một tấm bia, một bài tựa sách và ba chữ trên cây cầu ở Hội An. sang Đàng Trong, có thời gian ở lại Hội An. Sách Hải ngoại kỷ sự của ông chép một con đường dài ba bốn dặm chạy thẳng bờ sông, hai bên hàng phố liền nhau khít rịt, chủ phố thảy đều người Phước Kiến và vẫn ăn mặc theo lối nhà Minh, phần đông phụ nữ coi việc mua bán. Rồi tới câu định vị cây cầu: cuối đường là cầu Nhật Bản.

Năm 1719, chúa Nguyễn Phúc Chu tuần du phương nam. Đại Nam thực lục chép rằng mùa xuân năm Kỷ Hợi, năm thứ 28, xa giá đến phố Hội An, chúa thấy phía tây phố có cầu là nơi thuyền buôn tụ họp nên đặt tên là cầu Lai Viễn, viết chữ biển vàng ban cho. Hai chữ Lai Viễn vọng lại thiên mở đầu sách Luận ngữ, chỗ nói có bạn từ phương xa tới thì há chẳng vui sao.

Cầu đón bạn từ phương xa tới.
LAI VIỄN KIỀU · KHẮC NĂM 1719
Vẫn tấm biển ấy, treo trên lối qua cầu

Sallet năm 1919 còn chép được lời đề trên biển: Quốc chúa, đạo hiệu Thiên Túng. Thiên Túng đạo nhân đúng là đạo hiệu của Nguyễn Phúc Chu, và trên tấm hoành nay còn dấu châu ấn của chúa ở góc trái. Cầu có mái thì nước ta nhiều, nhưng một cây cầu do thương nhân nước ngoài dựng lên mà được chúa Đàng Trong ban cho tên chữ thì chỉ có cây này.

LÀNG ĐỨNG RA SỬA1763 – 1806

Ông duyên thủ và hơn một năm quyên góp

Trên nóc cầu có những thanh gỗ gọi là xà cò, mỗi lần trùng tu thợ lại khắc lên đó một dòng. Dòng sớm nhất còn đọc được là năm Quý Mùi 1763: duyên thủ xã Minh Hương Trương Hoằng Cơ cùng toàn xã đứng ra trùng hưng.

Năm sau, trát văn của xã Minh Hương kể tiếp việc ấy. Bản trát mang ký hiệu A18-MH, nay lưu tại Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di sản Văn hóa Hội An, chép rằng cầu lâu năm chày tháng không khỏi hư nát, ông duyên thủ Trương Hoằng Cơ đứng lên kêu gọi người thành tâm trong phố quyên góp, trùng tu hơn một năm mới xong. Bản trát không nói hết bao nhiêu tiền. Nó chỉ nói việc quyên và việc sửa gộp lại, hơn một năm mới xong.

2003 — màu cũ mà cả phố tưởng là màu thật của cầu

Năm 1806, sách Hoàng Việt nhất thống dư địa chí do Lê Quang Định chủ trì tả cây cầu kỹ hơn bất cứ nguồn nào trước đó: cầu dài 8 tầm, rộng 2 tầm, tục gọi là cầu Ngói, dưới cầu dựng trụ đá, phần trên đều bằng gỗ ván, gồm chín gian lợp ngói, có biển đề ba chữ vàng Lai Viễn kiều và bảng vàng khắc bảy chữ Quốc Vương Thiên Túng Đạo Nhân đề. Sách chép thêm một chi tiết mà các bản tả sau này bỏ mất: hai bên cầu đều bày bán đủ các thứ hàng hóa.

Đến đời Tự Đức, Đại Nam nhất thống chí lại chép cầu gác mái gồm bảy gian. Hai bộ quốc chí, hai con số. Người đo kiến trúc hiện trạng giải được chỗ vênh ấy: hệ mái chính giữa cầu có năm gian hai chái, cộng hai gian đầu cầu nằm trên nền đất là thành chín. Cây cầu không ngắn đi. Chỉ có hai cách đếm nó.

TẤM BIA1817

Bia dựng lên để nói rằng gỗ sẽ mục

Năm Gia Long thứ 16, tức 1817, quan viên, kỳ lão, chức sắc và dân xã Minh Hương hợp sức đại tu cây cầu. Xà cò khắc lại ngày giờ, và ở đầu cầu người ta dựng thêm một tấm bia đá đề bài ký Trùng tu Lai Viễn kiều. Bia còn tại di tích. Người soạn là quan đốc học Quảng Nam họ Đinh, sách chép tên ông hai cách là Đinh Phiên và Đinh Tường, kho này chưa chốt được cách nào đúng.

Bài bia mở đầu bằng một câu nay đã thành câu dẫn quen thuộc: làng Minh Hương ở phố Hội An, giáp giới Cẩm Phô có một khe nước, khe có cầu, cầu ấy đã lâu, tương truyền do người nước Nhật Bản dựng nên. Rồi bia tả cây cầu đang dùng: trên có mái lợp, dưới lát ván, đi lại thản nhiên như trên đất bằng, khách đi qua nhọc thì ngồi nghỉ thở, khách du đến đây hứng gió mát, tựa lan can ngắm xa soi dòng nước chảy mà ngâm thơ phú.

Đoạn sau mới là lý do dựng bia. Bia chép rằng việc đời hễ có nên thì có hư, cầu làm bằng gỗ lâu ngày bị mối mọt, nếu không tu bổ kịp thời không khỏi có điều trở ngại, vì vậy viên chức trong làng tình nguyện kẻ của người công chung sức lo tu bổ lại. Cuối bia là một bài minh năm câu, câu chót: được nhiều tiện lợi từ nay về sau.

Một tấm bia dựng lên giữa phố buôn để nói rằng gỗ rồi sẽ mục, và người ta đã biết trước điều đó từ hai trăm năm trước.

NHỮNG NGƯỜI BỎ TIỀN1875 – 1918

Bang trưởng, quan sứ, và tên người góp tiền

Năm Tự Đức thứ 28, tức 1875, xà cò chép một danh sách dài hơn trước: hương quan hương trưởng xã Minh Hương cùng các nhà buôn ngoài phố đồng trùng tu. Từ lần này, tên thương nhân đứng chung hàng với tên chức sắc làng.

Năm 1915, chánh công sứ Lesterlin Galtier chuẩn xuất ngân để tu bổ cây cầu, việc ấy khắc lên một tấm bia đá đặt ở phía nam đầu tây. Sallet đi qua bốn năm sau và ghi lại một mất mát: chính đợt đại tu 1915 đã thay hoa văn hình trái cây vào hai mặt cầu, thế chỗ những hoa văn cũ đơn giản hơn mà ông cho là đẹp hơn. Cũng quãng ấy một trận bão cuốn mất ngôi miếu, người ta dựng lại nó vào những tháng đầu năm 1917.

Năm Khải Định thứ 2, tháng sáu, tức 1917, xà cò chép quan viên hương chức xã Minh Hương, năm vị bang trưởng Ngũ Bang, cùng các nhà buôn trong phố chung nhau sửa. Kèm theo là ba tấm bia đá ghi phương danh người cúng tiền. Hè năm 1918, người ta dựng thêm bốn tấm bia nữa ở hai đầu cầu, ghi cả tên các quan chức Pháp bằng chữ La-tinh khắc rất vụng, và Sallet chê thẳng cách đặt mấy tấm bia ấy.

Tên quan Pháp khắc chen giữa chữ Hán, đúng chỗ Sallet chê

Mỗi lần sửa, danh sách người bỏ tiền dài thêm ra một đoạn. Đọc hết bốn dòng xà cò là đọc được cả trăm năm đổi thay của việc ai đứng ra lo cho khúc phố này.

VÀO SỔ NHÀ NƯỚC1925 – 1962

Cây cầu vào sổ

Tháng tư năm Khải Định thứ 10, tức 1925, Tòa Khâm sứ nghị định chia hạng những nơi cổ tích thuộc Trung Kỳ theo lịch sử và mỹ thuật để biên tập ghi chép giữ gìn, Cơ mật viện tâu lên và được chuẩn cho thi hành. Chùa Cầu vào danh sách ấy. Ở Hội An cùng đợt còn có chùa Bảo Anh, mà chính người biên đặc san cũng ngờ là chùa Bảo Sanh, tức chùa Bà Mụ.

Danh sách di tích mà người Pháp chấm chọn thì hai nguồn của chính Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di sản Văn hóa Hội An chép khác nhau. Đặc san 2021 chép ba di tích nổi tiếng nhất Hội An trước năm 1930 là cầu Nhật Bản, chùa Bà Mụ và hội quán Triều Châu. Ông Nguyễn Chí Trung, giám đốc Trung tâm, thì nói năm 1930 Viện Viễn Đông Bác Cổ chấm chọn chùa Cầu, chùa Ông Bổn và chùa Bà Mụ. Chỉ hai cái tên có mặt ở cả hai bản.

Cây cầu trên một tấm bưu ảnh đầu thế kỷ XX

Năm 1962, chính quyền tỉnh Quảng Nam tu bổ cây cầu, thay và gia cố những cấu kiện đã mục. Bộ Quốc gia Giáo dục cho treo ở cầu một tấm bảng đề: cổ tích liệt hạng Lai Viễn kiều, cấm phá hoại di sản, dán giấy, vẽ và viết trên cổ tích, ai phạm pháp sẽ bị truy tố và trừng phạt theo luật lệ hiện hành về bảo tồn cổ tích. Cũng thập niên ấy, hình cây cầu được in lên tem lệ phí vi bằng của tỉnh Quảng Nam.

Suốt ba thế kỷ, thứ giữ cây cầu là làng Minh Hương và những người buôn trong phố. Từ 1925 nó có thêm một thứ chưa từng có: một điều luật đứng sau lưng.

TRẬN LỤT1964 · 2025

Năm ấy sông dâng

Cây cầu dựng ở một nơi mà lụt về đúng hẹn. Giáo sĩ Cristophoro Borri ở Đàng Trong đầu thế kỷ XVII chép rằng vào tháng chín, tháng mười và tháng mười một, mưa liên tục làm nước lũ ngập khắp xứ rồi đổ ra biển, như thể đất liền và biển chỉ còn là một, cứ mười lăm hôm lại một trận và mỗi trận kéo dài ba ngày. Chùa Cầu bắc qua chính khúc nước ấy.

Từ ngày 4 đến ngày 10 tháng 11 năm 1964, mưa trút xuống Quảng Nam. Ngày 9, trận đại hồng thủySỰ KIỆN · LỤTTrận đại hồng thủy 1964Ngày 9 tháng 11 năm 1964Mốc nước mà mọi trận lụt sau này ở Quảng Nam vẫn phải đem ra so, và mốc ấy đã bị vượt vào tháng 10 năm 2025. đẩy sông Thu BồnĐỊA ĐIỂM · SÔNGSông Thu BồnTừ khi có đồng bằng · đến nayMỗi năm sông Thu Bồn đổ ra biển khoảng 20 km³ nước, nhiều hơn mọi con sông miền Trung, và 80 đến 90% lượng ấy dồn vào bốn tháng cuối năm. Phố cổ Hội An đứng trên một cồn cát do chính con sông này bồi nên. tràn bờ. Bản công bố hồi ấy đếm riêng tỉnh Quảng Nam 2.500 người chết và 22.447 ngôi nhà trôi theo nước, làng Đông An gần như bị xóa sổ chỉ trong một đêm. Trạm đo Hội An ghi nước dừng ở mức 3,40 mét.

Chưa có trong kho
Cần hiện vật · trận lụt năm 1964

Mốc nước ấy đứng vững sáu mươi mốt năm. Ba giờ rưỡi sáng ngày 30 tháng 10 năm 2025, sông chạm lại đúng mức đó. Cây cầu khi ấy vừa mở lại sau lần trùng tu lớn nhất đời nó, từ tháng Tám năm trước. Ảnh chụp sáng hôm ấy cho thấy nước ngập tới sát mái.

SỬA BẰNG NGÂN SÁCH1986 – 1999

Việc của làng thành việc của nhà nước

Từ tháng 8 đến tháng 10 năm 1986, Bộ Văn hóa cùng Ủy ban nhân dân thị xã Hội An trùng tu phần mái và phục hồi sàn cầu đúng như ta thấy bây giờ. Tổng số tiền là 555.454 đồng. Trong hai tháng thợ làm, có 79 đoàn khách đến xem, trong đó 39 đoàn là khách nước ngoài, và đại sứ Ba Lan tại Việt Nam cùng nhân viên sứ quán cũng ghé qua công trường.

Ngày 17 tháng 2 năm 1990, Chùa Cầu là một trong ba di tích riêng lẻ đầu tiên ở Hội An được xếp hạng di tích cấp quốc gia, cùng hội quán Phước Kiến và nhà cổ Tấn Ký. Ngày 7 tháng 7 năm 1992, tỉnh Quảng Nam khoanh vùng bảo vệ.

Tấm bằng cấp cho “Khu phố cổ Hội An - Chùa Cầu”, tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng

Tháng 10 năm 1996, thị xã xây lại nửa trụ cầu phía tây bên thượng lưu và đúc dầm tường phía bắc của chùa, hết 18.236.032 đồng. Ngày 24 tháng 7 năm 1999, thị xã họp bàn việc trùng tu, trong phòng họp có giáo sư Phan Huy Lê, kiến trúc sư Hoàng Đạo Kính, chuyên gia JICA Kikuchi Seiichi và Mark Chang của Đại học Nữ Chiêu Hòa.

Việc giữ cầu, xưa ghi trong trát văn của làng, nay ghi trong quyết toán.

CUỘC ĐẠI TRÙNG TU2022 – 2024

Tháo ra để giữ lại

Ngày 28 tháng 12 năm 2022, giàn giáo và nhà bao che quây kín cây cầu. Đây là lần trùng tu lớn thứ tám được ghi lạiSỰ KIỆN · TRÙNG TUCuộc hạ giải trùng tu2022 – tháng 8 năm 2024Lần can thiệp kỹ lưỡng nhất trong lịch sử cây cầu — và cũng gây tranh cãi nhất., tốn hơn 20,2 tỷ đồng, tỉnh Quảng Nam và thành phố Hội An chia đôi. Thợ hạ giải rồi làm lại từ nền, móng, mố và trụ cầu, tới sàn, khung gỗ, mái, hệ thống điện và việc chống mối. Mười chín tháng sau, ngày 3 tháng 8 năm 2024, cầu khánh thành.

1/8/2024 — cổng cầu, hai ngày trước lễ khánh thành
Gian thờ Bắc Đế sau khi thợ lắp lại

Cầu mở lại thì phố cãi nhau về màu sơn. Ông Nguyễn Đức Minh, nguyên phó giám đốc Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di sản Văn hóa Hội An, khen phần hoa văn và nội thất giữ được chỉn chu, rồi nói tiếc: sơn mặt ngoài không đồng bộ, không xử lý được nét cổ kính, màu ngói và màu tường quá đậm nên nhìn hơi khó chịu, trong khi màu các di tích Hội An vốn là màu đỏ hơi nhạt, có phần giống màu cánh sen hơn.

Trung tâm trả lời rằng màu ấy phục hồi theo mấy vị trí trên chính cây cầu còn giữ được màu nguyên trạng, cộng với kết quả khảo sát những công trình tín ngưỡng cùng loại ở Hội An, và theo đề xuất của chuyên gia qua các lần tham vấn. Ông Nguyễn Văn Sơn, chủ tịch thành phố, cho biết công trình có chuyên gia trong nước và người của Tổng cục Văn hóa Nhật Bản cử sang giám sát, rồi nói một câu gọn: không có công trình nào đại trùng tu mà không thay đổi, quan trọng là yếu tố gốc giữ được. Thành phố vẫn giao Trung tâm sơn lại nhạt hơn ở mặt trước và mặt sau.

Ông Nguyễn Sự, nguyên bí thư thành ủy Hội An, nhắc rằng ngói mới lợp thì trông còn mới, vài mùa mưa nữa sẽ cũ lại như trước. Ông nói thêm một câu đáng để nguyên: có yêu thì người dân, du khách mới bày tỏ sự khen chê đối với di tích được xem là biểu tượng của phố cổ.

Bảy lần sửa trước cũng đổi cây cầu đi ít nhiều, và lần 1915 còn thay hẳn hoa văn hai mặt. Khác một chỗ: lần này cả nước nhìn thấy trong một buổi sáng.

BIỂU TƯỢNGHÔM NAY

Cây cầu nằm trong ví

Năm 2005, hình cây cầu thành logo của Đô thị cổ Hội An. Ngày 17 tháng 5 năm 2006, Ngân hàng Nhà nước phát hành tờ polymer 20.000 đồng màu xanh lơ đậm, khổ 136 × 65 mm, mặt sau in phong cảnh Chùa Cầu. Đây là công trình kiến trúc Hội An mà phần lớn người Việt mang theo trong ví mỗi ngày.

Cây cầu rút thành mấy nét, làm dấu của cả thành phố
Cũng cây cầu ấy trên bưu ảnh đầu thế kỷ 20, người trong phố đứng dọc lan can.ĐẦU TK 20
Cây cầu tháng 8 năm 2024 nhìn qua lòng lạch cạn, đám đông đứng trên bờ kè.2024
Đối chiếu tư liệu
Cùng một cây cầu, cách nhau một thế kỷ

Cả nước còn mười hai cây cầu có mái theo lối thượng gia hạ kiều, Nam Định năm cây, Hà Nội bốn, Ninh Bình, Huế và Quảng Nam mỗi nơi một. Trong mười hai cây ấy chỉ ba cây có thờ tự, và chỉ một cây dựng hẳn một khối kiến trúc riêng để thờ, nối liền với cầu mà vẫn ngăn bằng vách gỗ. Bộ đấu củng vuông thót đáy chồng lên nhau làm trụ đội ở đây thì không tìm thấy ở bất cứ di tích nào khác trong phố cổ.

Còn lại bao nhiêu của cây cầu bốn trăm tuổi thì người đo hiện trạng nói rõ: phần móng giữ được gần như nguyên vẹn, còn vôi, gạch và gỗ hầu hết đã thay qua các lần tu sửa. Bốn thế kỷ ấy không nằm trong thớ gỗ. Nó nằm ở chỗ đứng, ở hình dáng, và ở việc đời nào cũng có người bỏ tiền ra sửa.

Người Nhật bỏ vốn dựng nó, thợ Việt cầm cưa, làng Minh Hương giữ nó suốt hai thế kỷ rưỡi, một vị chúa cho nó ba chữ, người Pháp đưa nó vào sổ cổ tích, và nhà nước hôm nay in nó lên tờ bạc. Chỗ còn nguyên vẹn nhất của cây cầu lại là chỗ không ai nhìn thấy.

LẦN THEO MẠCH CHUYỆN
DỰNG BỞI · k. 1593Thương nhân Nhật BảnCON NGƯỜI · CỘNG ĐỒNGCộng đồng người Nhật ở Hội An có ngày mở và có ngày đóng, chuyện hiếm trong kho này. Mạc phủ cấp giấy cho họ đi từ năm 1602 và gọi họ về năm 1635. Mấy người không lên tàu, và mộ của họ vẫn còn trên đất Hội An, do người Việt trông coi.THỜ · 1653Bắc Đế Trấn VũCON NGƯỜI · THẦN LINHVị thần phương Bắc của Đạo giáo, coi giữ thủy tộc, tu bốn mươi hai năm trên núi Võ Đang rồi được người Hoa mang sang thờ trong một ngôi miếu nhỏ bắc trên cây cầu ở Hội An năm 1653, để làm cái việc mà trước đó một con cá da trơn trong thần thoại Nhật Bản vẫn quấy.ĐẶT TÊN BỞI · 1719Nguyễn Phúc ChuCON NGƯỜI · CHÚA NGUYỄNÔng cầm quyền Đàng Trong ba mươi tư năm, mời một nhà sư Trung Hoa sang ở nửa năm rồi cho khắc lời khuyên của người ấy lên bảng treo trước phủ, đi xin một danh vị mà không được, và để lại chữ mình ký trên một quả chuông, một tấm bia, một bài tựa sách và ba chữ trên cây cầu ở Hội An.DƯỚI THỜIThời các chúa NguyễnTHỜI ĐẠI · ĐÀNG TRONGChín đời chúa cai quản Đàng Trong hơn hai trăm năm bằng một bộ máy sống nhờ biển: thuế đánh vào thuyền buôn ghé cảng, và mỗi năm bảy mươi suất lính đi thuyền câu ra khơi ba ngày ba đêm nhặt hải vật đem về nộp. Khi cảng không nuôi nổi nữa, bộ máy ấy đổ trong ba năm.NGẬP VÌ · 1964Trận đại hồng thủy 1964SỰ KIỆN · LỤTMốc nước mà mọi trận lụt sau này ở Quảng Nam vẫn phải đem ra so, và mốc ấy đã bị vượt vào tháng 10 năm 2025.NẰM BÊNSông Thu BồnĐỊA ĐIỂM · SÔNGMỗi năm sông Thu Bồn đổ ra biển khoảng 20 km³ nước, nhiều hơn mọi con sông miền Trung, và 80 đến 90% lượng ấy dồn vào bốn tháng cuối năm. Phố cổ Hội An đứng trên một cồn cát do chính con sông này bồi nên.TRÙNG TU · 2022 – 24Cuộc hạ giải trùng tuSỰ KIỆN · TRÙNG TULần can thiệp kỹ lưỡng nhất trong lịch sử cây cầu — và cũng gây tranh cãi nhất.NỐI SANGKhu phố người HoaĐỊA ĐIỂM · KHU PHỐNgười Hoa tới Hội An theo gió mùa và định về theo gió mùa, nên người trong phố gọi họ là người Tàu, nghĩa là người đi thuyền tới. Rồi một số ở lại, và nhà nước phải nghĩ ra một thân phận cho họ.THUỘC THỜIFaifo, thế kỷ thương cảngTHỜI ĐẠI · THƯƠNG CẢNGMỗi năm một mùa gió, tàu Nhật, tàu Hoa và tàu Bồ vào một cửa sông ở Quảng Nam rồi ở lại bốn tháng. Chúa Nguyễn thu thuế theo nơi tàu đến, cao nhất là tàu Tây dương, tám nghìn quan một chuyến vào cửa.
NGUỒN
  1. Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di sản Văn hóa Hội An, “Thông tin nghiên cứu Bảo tồn Di sản” Tập 03(55)-2021, chuyên đề Di tích Chùa Cầu, Nxb Đà Nẵng, 182 tr., 24 bài — nguồn xương sống của mục này
  2. Võ Hồng Việt, “Những sự kiện về di tích Chùa Cầu”, đặc san đã dẫn, tr. 46–51 — biên niên có chú nguồn từng mốc, từ xà cò 1763 tới doodle Google 2019
  3. Trần Thanh Hoàng Phúc, “Hiện trạng và giá trị về kiến trúc nghệ thuật của di tích Chùa Cầu”, đặc san đã dẫn, tr. 68–77 — số đo hiện trạng, bộ vì kèo, so sánh với 11 cầu ngói còn lại ở Việt Nam
  4. “Tổng quan các nguồn tài liệu và nghiên cứu về di tích Chùa Cầu”, đặc san đã dẫn, tr. 138–145 — kiểm kê mọi thư tịch, thác bản và tư liệu lưu trữ từng chép về cây cầu
  5. “Từ tín ngưỡng dân gian đến tục thờ Bắc Đế Trấn Vũ ở Chùa Cầu”, đặc san đã dẫn, tr. 103–108 — Namazu, Bắc Đế, và chế độ lụt của hạ lưu Thu Bồn
  6. “Bề dày lịch sử văn hóa của Chùa Cầu nhìn từ một truyền thuyết”, đặc san đã dẫn, tr. 42–45 — bản đầy đủ của truyền thuyết Trấn Cù dậy
  7. Quốc sử quán triều Nguyễn, “Đại Nam thực lục tiền biên” quyển 8 (bản dịch Nxb Giáo dục 2007, tr. 137) — chép việc chúa Nguyễn Phúc Chu đặt tên cầu Lai Viễn năm Kỷ Hợi 1719. Dẫn theo đặc san đã dẫn và bản mộc bản
  8. Quốc sử quán triều Nguyễn, “Đại Nam nhất thống chí” (bản dịch Nxb Thuận Hóa 1997, t.2 tr. 379) — cầu Lai Viễn “gác mái gồm bảy gian lợp ngói”. Dẫn theo đặc san đã dẫn
  9. Lê Quang Định, “Hoàng Việt nhất thống dư địa chí” hoàn thành Gia Long thứ 5 (1806), bản Phan Đăng dịch, tr. 290 — cầu dài 8 tầm rộng 2 tầm, chín gian lợp ngói, hai bên bày bán hàng hóa. Dẫn theo đặc san đã dẫn
  10. “Quảng Nam xã chí” ký hiệu AJ23.7, Viện Nghiên cứu Hán Nôm, phần làng Minh Hương ghi 1943–1944 — bản ghi sớm nhất của lối giải thích khỉ và chó, và của việc chôn kiếm vàng. Dẫn theo đặc san đã dẫn
  11. Trát văn xã Minh Hương ký hiệu A18-MH (1764), lưu tại Trung tâm QLBT Di sản Văn hóa Hội An — việc duyên thủ Trương Hoằng Cơ kêu gọi quyên góp, trùng tu hơn một năm mới xong. Dẫn theo đặc san đã dẫn
  12. “Minh Hương tam bảo vụ”, Trương Đình Hoanh, 1972, lưu tại Trung tâm QLBT Di sản Văn hóa Hội An — nguồn duy nhất của mốc 1653. Dẫn theo đặc san đã dẫn
  13. Nhóm nghiên cứu Hội An, “Di sản Hán Nôm Hội An” tập 1 – Văn bia (2014), tr. 185–192 — bia “Trùng tu Lai Viễn kiều ký” năm Đinh Sửu, Gia Long thứ 16. Dẫn theo đặc san đã dẫn
  14. Huỳnh Tịnh Paulus Của, “Đại Nam Quấc âm tự vị”, Sài Gòn 1895, tr. 194 — mục từ “Cù” và “Cù dậy”. Dẫn theo đặc san đã dẫn
  15. Hosoda Hiroko, “Namazu — Truyền thuyết và tín ngưỡng”, Nxb Ribun 1970, tr. 156–167 — 130 đền thờ Namazu ở Nhật trước 1970. Dẫn theo đặc san đã dẫn
  16. Cristophoro Borri, “Xứ Đàng Trong năm 1621” (bản dịch Nxb TP.HCM 1998, tr. 15) — chế độ lụt Đàng Trong thế kỷ XVII. Dẫn theo đặc san đã dẫn
  17. Cristoforo Borri, “Relation de la nouvelle mission des peres de la Compagnie de Iesus au royaume de la Cochinchine”, Rennes 1631 — nguyên bản tiếng Pháp
  18. A. Sallet, “Le Vieux Faifo — II. Souvenirs japonais”, Bulletin des Amis du Vieux Huế 1919 số 4, tr. 508–515 — số đo năm 1919, bốn dòng xà cò, biển Lai Viễn kiều, lễ Bắc Đế, đợt đại tu 1915 và bốn tấm bia hè 1918
  19. L. Cadière, “Sur le pont de Faifo, au XVIIe siècle: historiette tragi-comique”, BAVH 1920 số 3, tr. 349–358 — hồi ký Bénigne Vachet, chứng cứ thành văn sớm nhất về cây cầu
  20. Thích Đại Sán, “Hải ngoại kỷ sự” (1695), quyển 1 — bản chữ Hán 識典古籍
  21. “Chùa Cầu — dấu ấn người Nhật trên phố cổ Hội An” — Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV, mocban.vn (nguyên văn mộc bản Đại Nam thực lục tiền biên q.8 và Đại Nam nhất thống chí q.5)
  22. “Chùa Cầu Hội An — Những lần tu bổ” — Trung tâm QLBT Di sản Văn hóa Hội An, 19/08/2016
  23. “Chùa Cầu Hội An — một di tích độc đáo về kiến trúc nghệ thuật” — Trung tâm QLBT Di sản Văn hóa Hội An
  24. “Bia trùng tu Lai Viễn Kiều ký” — Báo Quảng Nam, 2018
  25. “Năm 1930, Viện Viễn Đông Bác Cổ đã chấm chọn chùa Cầu, chùa Ông Bổn và chùa Bà Mụ là cổ tích liệt hạng của Việt Nam” — Trung tâm QLBT Di sản Văn hóa Hội An
  26. “Đại trùng tu chùa Cầu, Hội An: Nhiều ý kiến trái chiều” — Sài Gòn Giải Phóng, 30/07/2024 (kinh phí, tiến độ, ý kiến Nguyễn Đức Minh, Nguyễn Sự và Nguyễn Văn Sơn)
  27. “Diện mạo Chùa Cầu sau khi trùng tu” — Trung tâm QLBT Di sản Văn hóa Hội An, 26/07/2024
  28. “Hoi An's Cau Pagoda reopened after restoration” — VietnamPlus (hạng mục thi công và lễ khánh thành 3/8/2024)
  29. “Đại hồng thủy 1964, ác mộng làng Đông An” — Tuổi Trẻ, 26/10/2025
  30. “Nước sông Thu Bồn vượt đỉnh lũ ‘đại hồng thủy’ năm 1964” — Dân trí, 30/10/2025
  31. “Hình ảnh nước lụt ở Hội An sáng nay chạm mốc lịch sử năm Thìn 1964” — Tuổi Trẻ, 30/10/2025
  32. “Tiền polymer mệnh giá 20.000 đồng bắt đầu đi vào lưu thông” — Báo Chính phủ
  33. “Những hình ảnh lịch sử của Chùa Cầu Hội An” — Tuổi Trẻ, 31/07/2024
NGUỒN ẢNH
LỜI NGỎ

Nhà bạn còn giữ tấm ảnh nào chụp Chùa Cầu trước năm 1975 không? Ảnh cưới, ảnh chụp chung với bạn học, ảnh mùa nước lớn, cây cầu đứng phía sau cũng được.

Bốn trăm năm nay cây cầu được biết tới là nhờ những người chịu khó ghi lại từng lần sửa nó. Có tấm ảnh cũ, có chuyện ông bà kể, xin gửi về Hội An Ký qua toiyeuvietnam@msn.com.

Của Hội An thì Hội An giữ.

Gửi cho Hội An Ký →