Một tấc gỗ cũng không cho ra biển
Năm 1371, Minh Thái Tổ ra chiếu cấm dân miền duyên hải Trung Quốc xuất ngoại. Lệnh ấy giữ gần hai trăm năm, và người ta tóm nó lại thành một câu: một tấc gỗ cũng không cho ra ngoài hải ngoại. Mãi đến năm 1567, Minh Mục Tông mới mở lại.
Từ đó thuyền buôn Hoa Nam mới đi hợp pháp được, đúng lúc cửa Đại Chiêm
THỜI ĐẠI · THƯƠNG CẢNGFaifo, thế kỷ thương cảngk. 1523 – 1778Mỗi năm một mùa gió, tàu Nhật, tàu Hoa và tàu Bồ vào một cửa sông ở Quảng Nam rồi ở lại bốn tháng. Chúa Nguyễn thu thuế theo nơi tàu đến, cao nhất là tàu Tây dương, tám nghìn quan một chuyến vào cửa. đang thành nơi tàu tụ hội. Người Minh phần lớn theo gió đông bắc mùa đông mà xuống, rồi đợi gió tây nam mùa hạ mà về. Người trong phố gọi họ theo cái cách họ đến: người Tàu, chữ Nôm viết là 人艚, nghĩa là người đi thuyền tới.
Chính sách bên kia biển quyết định ai được đến. Hội An mở cửa suốt, nhưng thuyền chỉ tới được khi triều đình Bắc Kinh thôi cấm.
Chỗ ở của người sẽ về
Chỗ thương nhân nhà Minh tụ lại ở Hội An lúc đầu gọi là Đại Minh khách phố, sau gọi là Đại Đường nhai. Cả hai cái tên đều nói rõ một điều: đây là chỗ ở tạm của khách. Chen Ching-Ho, người viết khảo cứu nền về mảng này, xếp cả hai vào loại kiều cư có thời hạn.
Họ không phải toàn thương nhân. Trong đám người Hoa ở Hội An bấy giờ có thợ thủ công, thầy thuốc, thầy địa lý, thầy đồ, sĩ phu, lao động phổ thông, binh lính và cả quan lại. Cái nghề nào cũng có chỗ dùng ở một phố cảng, và cái nghề nào cũng có thể ở lại.
Người đến buôn một mùa rồi về thì không cần thân phận gì. Việc đổi khác khi có người không về được nữa.
Ngôi miếu làm việc của một tòa án
Trước năm Khánh Đức Quý Tỵ, tức trước năm 1653, người Minh Hương cùng người Việt dựng Quan Công miếu giữa phố. Hai bên dựng chung, không phải một bên dựng cho một bên.
Miếu ấy có một việc rất trần tục phải làm. Phố cảng thì ngày nào cũng có hợp đồng, có nợ, có vay mượn, mà giấy tờ giữa người nhiều tiếng nói khác nhau thì khó cưỡng chế. Người ta đưa nhau đến trước bàn thờ Quan Thánh mà thề. Ngài chứng cho chữ Tín trong làm ăn, và ngài trừng phạt kẻ tráo trở. Trung tâm tín ngưỡng của phố đồng thời là chỗ phân xử.
Ảnh · Chainwit. · Wikimedia Commons · CC BY 4.0
Ảnh · Franzfoto · Wikimedia Commons · CC BY-SA 3.0Ba nghìn người đến xin theo
Nhà Minh mất, và người Minh không chịu thần phục nhà Thanh bắt đầu đi. Quảng Nam của chúa Nguyễn ở xa quân Thanh, nên chúa mở cửa: người Minh là nguồn lực dùng được để chống chúa Trịnh ở ngoài và để mở đất phía nam.
Đại Nam thực lục tiền biên quyển 5 chép năm 1679, tổng binh Long Môn Dương Ngạn Địch và tổng binh Cao Lôi Liêm Trần Thượng Xuyên đem hơn 3.000 lính sang theo chúa. Chúa phong chức và cho họ đi khai khẩn phương nam.
Niên đại này các nhà nghiên cứu còn bàn. Trịnh Thụy Minh cho rằng hợp lý hơn là sau loạn Tam Phiên, tức 1681. Chen Ching-Ho cho là quãng cuối 1682 sang 1683. Sách của Minh Hương Gia Thạnh đường ở Sài Gòn chép 1683. Kho giữ con số của chính sử và ghi rằng nó chưa yên.
Không phải một dòng máu, mà một quyển sổ
Chúa Nguyễn nghĩ ra cho những người Minh định ở lại một thiết chế riêng, gọi là Minh Hương xã. Chữ Minh Hương lúc ấy viết 明香, nghĩa gốc là giữ hương hỏa nhà Minh.
Đàn ông trong xã phần lớn là người Minh hoặc con lai Minh – Việt. Một Minh Hương xã cần ít nhất 5 dân đinh mới lập được, con số ấy cho thấy nó không hẳn là một cái làng theo nghĩa thường. Dưới thời các chúa, ở Đàng Trong chưa hề có tổ chức bang. Người Hoa chỉ nằm trong hai đơn vị hành chính: Minh Hương xã và Thanh Hà phố.
Nói cách khác, Minh Hương không phải một dân tộc. Nó là một chỗ đứng trước pháp luật, và người ta vào đó bằng cách được ghi tên vào sổ.
Bỏ bộ hương, thêm bộ ấp
Sang triều Nguyễn, Gia Long đổi tên tất cả Đại Minh khách phố và Thanh Hà phố thành Minh Hương xã, để tách bạch với các bang người Thanh mới sang.
Đến tháng 7 năm 1827, triều đình ra chỉ dụ đổi chữ. Chữ Hương 香 bộ hương, nghĩa hương hỏa, thay bằng chữ Hương 鄉 bộ ấp, nghĩa quê hương làng xóm. Lý do khai ra là giữ quan hệ hòa hiếu với nhà Thanh.
Một nét bút đổi cả nghĩa của một cộng đồng. Trước đó họ là những người giữ hương hỏa cho một triều đại đã mất. Sau đó họ là làng của những người Hoa đến từ thời Minh. Cái đầu là lời thề, cái sau là một dòng trong sổ hộ tịch.
Người đứng đầu bang nắm cả một đời người
Tổ chức bang chỉ có từ triều Nguyễn. Bang là tập hợp người đồng hương và cùng một phương ngữ, nên ở Hội An có 5 bang: Phúc Kiến, Quảng Đông, Triều Châu, Hải Nam và Gia Ứng.
Người đứng đầu gọi là bang trưởng, do người trong bang bầu, và phải được chính quyền cấp tỉnh công nhận. Quyền của ông ta rất lớn. Nó bắt đầu từ lúc một di dân chân ướt chân ráo lên bờ xin nhập cảnh, và theo người ấy suốt đời.
Triều đình được hai thứ từ chế độ này. Một là bộ máy thu thuế trong cộng đồng mà không phải tự dựng. Hai là một ranh giới hộ tịch rạch ròi giữa người Thanh và người Minh Hương, và ranh giới ấy tạo ra lực hút để người Minh Hương hòa nhanh vào dân bản địa.
Chính người viết về chế độ ấy cũng chỉ ra cái hại đi kèm. Bang tự quản đủ lâu thì sinh ra khả năng tự trị, nhất là khi thế lực bang trưởng lớn dần và vị trí kinh tế của người Hoa cao lên. Và một khi đã có bang thì người Thanh mới với người Thanh cũ tách hẳn làm hai, không còn chung một cửa nào.
Bang nào cũng dựng một cái nhà chung, trừ một bang
Hội quán Trung Hoa và hội quán Phúc Kiến ra đời sớm nhất, vào đầu thế kỷ XVIII. Các cái sau muộn hơn hẳn: hội quán Triều Châu năm 1845, hội quán Quỳnh Phủ của người Hải Nam năm 1875, hội quán Quảng Triệu của người Quảng Đông vào nửa cuối thế kỷ XIX.
Trong 5 bang ở Hội An, bang Gia Ứng là bang duy nhất không có hội quán riêng. Chữ trên bia, hoành phi và câu đối trong các hội quán gọi họ là bang Gia Ứng, không gọi bằng cái tên nay quen dùng.
Có một ngôi nhà chung không thuộc bang nào: Minh Hương Tụy Tiên Đường. Đó là nhà của người Minh Hương, vừa là hội quán vừa là nghĩa từ, và nó không phải hội quán của thương nhân kiều cư. Chỗ khác nhau giữa hai loại nhà ấy chính là chỗ khác nhau giữa hai quyển sổ.
Ảnh · P. Hughes · Wikimedia Commons · CC BY 4.0
Ảnh · Christophe95 · Wikimedia Commons · CC BY-SA 4.0Một cộng đồng đo được bằng mét vuông
Năm cái nhà chung ấy đều nằm ở khu trung tâm, chỗ đông dân, gần chợ, và đều ở phía đông cây cầu Nhật. Chúng dựng theo lối đền miếu cổ Trung Hoa, đối xứng, tường chỉ để che chứ không chịu lực, sức nặng dồn hết vào bộ khung gỗ.
Hội quán Phúc Kiến ở số 46 Trần Phú là cái rộng nhất: 2.000 m² kiến trúc, chỗ sâu nhất 100 m, chỗ rộng nhất 24 m. Hội quán Trung Hoa của cả năm bang ở số 64 cùng đường, 1.160 m². Hội quán Quảng Triệu ở số 176, 948 m². Hội quán Triều Châu nhỏ nhất, khuôn viên 824 m².
Thứ tự to nhỏ không khớp hẳn thứ tự trước sau. Hội quán Quỳnh Phủ dựng muộn, năm 1875, mà nay là cái rộng thứ hai. Chỉ có một chỗ là thẳng thớm: bang không dựng được nhà nào thì không có số nhà để đọc.
Ảnh · P. Hughes · Wikimedia Commons · CC BY 4.0Đi thăm quê rồi không về
Trung tuần tháng 6 âm lịch năm Tân Hợi 1851, một nhóm thương buôn Hải Nam lên đường về thăm quê. Tàu Bằng Đoàn của quân đội triều Nguyễn đang tuần biển, do Chưởng vệ Phạm Xích và Lang trung Tôn Thất Thiều chỉ huy.
Đến vùng biển Quảng Ngãi, tàu Bằng Đoàn gặp 3 chiếc tàu buôn Hải Nam và bắn súng thần công. Ba chiếc giong buồm chạy. 3 ngày sau tàu quan bắt kịp, bắn vỡ một chiếc, một chiếc chạy thoát, một chiếc bị bắt. Khám xong thì biết là thương buôn chứ không phải hải tặc, nhưng trên tàu có nhiều hàng quý.
Đại Nam thực lục chép lời khai của chính người trong đội: 33 người trình thẻ thuyền. Có kẻ nói trước ngụ ở phố Thừa Thiên và quen biết Tôn Thất Thiều. Thiều cho là người buôn gian lậu nên bắt chém, Xích theo lời, rồi sai đem người trong thuyền giết hết, 76 người ném xác xuống biển. Hai viên quan báo về triều là đã dẹp được một đoàn tàu hải tặc và xin thưởng công.
Bên mình không ai bị thương
Vua Tự Đức sinh nghi vì một chỗ: đánh nhau với hải tặc mà quân mình không ai sứt mẻ, trong khi bên kia chết sạch. Vua sai quan bộ Binh đến khám lại.
Dân gian còn kể hai lối khác. Một là có nhóm khách ăn ở quán phố Gia Hội tại Huế mà không đủ tiền trả, một người tháo chiếc nhẫn ra cầm tạm, bà chủ quán nhận ra nhẫn của chồng mình, một thương buôn Hải Nam, nên vào thành đánh trống kêu oan. Hai là oan hồn báo mộng cho vua.
Tra ra rồi thì 2 kẻ chủ mưu bị xử lăng trì, 5 viên quan khác bị xử trảm, tòng phạm bị giáng chức và tịch biên. Vua cho lập trai đàn chẩn tế ở cửa biển Thuận An, sắc phong các vong linh là Chiêu Ứng Anh Liệt và cho lập miếu thờ.
Từ đó người Hoa Hải Nam đi đâu cũng mang theo tục thờ ấy. Năm 1875 họ dựng Quỳnh Phủ hội quán ở Hội An, vừa thờ Chiêu Ứng Anh Liệt vừa làm chỗ sinh hoạt của bang. Người Hoa phố Gia Hội ở Huế quyên góp dựng riêng Chiêu Ứng từ năm 1887, trùng tu lớn năm 1908. Tục thờ đếm 108 người. Hai con số trong thực lục cộng lại thì ra 109 người, và kho ghi cả hai.
Ảnh · Christophe95 · Wikimedia Commons · CC BY-SA 4.0Tên đường đổi theo người cầm quyền
Gần như mọi công trình của người Minh Hương và người Hoa ở phố cổ đều nằm trên một con đường và mấy lối quanh nó. Con đường ấy chính là Đại Đường nhai xưa.
Thời Pháp thuộc, người ta gọi nó là phố Nhật, vì cuối đường có Chùa Cầu
ĐỊA ĐIỂM · PHỐ CỔChùa CầuNgười Nhật bỏ vốn, thợ Việt dựng, làng người Hoa giữ, một vị chúa cho ba chữ. Qua tám lần hạ giải, chỗ còn gần như nguyên vẹn của cây cầu bốn trăm tuổi là cái móng.. Sau khi đất nước thống nhất, nó mang tên Trần Phú, Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ba cái tên trên cùng một dãy nhà, và không cái nào do người ở đó đặt.
Đi từ đầu này sang đầu kia thì gặp lần lượt hội quán Triều Châu, hội quán Quỳnh Phủ, Minh Hương Tụy Tiên Đường, Quan Công miếu, ngôi chùa cũ của người Minh Hương nay là bảo tàng, hội quán Phúc Kiến, hội quán Trung Hoa của cả 5 bang, hội quán Quảng Đông, rồi tới Chùa Cầu.
Ảnh · P. Hughes · Wikimedia Commons · CC BY 4.0Mất thân phận, giữ ngày cúng
Minh Hương xã tồn tại suốt triều Nguyễn. Thời Pháp thuộc, chính quyền thực dân không công nhận chính thức thiết chế ấy nữa. Từ sau Cách mạng Tháng Tám, Minh Hương chỉ còn là một khái niệm lịch sử.
Suốt triều Nguyễn, thiết chế ấy gắn với những người Minh Hương đi ra khỏi phố mà làm quan, làm tướng, làm văn. Nó vừa là cái sổ giữ người ta ở ngoài, vừa là cái cửa cho người ta đi vào.
Cái mất đi là thân phận pháp lý, không phải con người. Nhà vẫn ở đó, hội quán vẫn mở cửa, và các đám cúng vẫn làm đúng ngày.
Hằng năm vào ngày 24 tháng 6 âm lịch, Quan Công miếu làm lễ vía Quan Thánh Đế Quân. Trước ngày vía chính, tổ quản lý di tích trang trí cờ hội và treo hai lá cờ đại thêu chữ Hán ngay cửa chính.
Người đến không chỉ ở trong phố. Có người từ Đà Nẵng, Tam Kỳ, Quảng Ngãi về. Trong đám ấy, đông nhất vẫn là giới thương nhân, đúng như cái nghề đã dựng nên ngôi miếu.
Vài trăm người biết mình là ai
Tổng điều tra dân số Việt Nam năm 2009 đếm 85.846.997 người, trong đó 823.071 người Hoa, tức 0,96%. Ở Thành phố Hồ Chí Minh, riêng năm 1992 đã có 524.000 người Hoa.
Hội An thì khác hẳn. Nhà nghiên cứu Đài Loan Tưởng Vi Văn, tên ông tự viết là Chiung Wi-vun, làm điền dã ba đợt từ năm 2012 đến 2014, phỏng vấn người Minh Hương, người Hoa và người Việt trong phố. Ông ước tính trên khoảng 120.000 dân toàn thành phố, người Minh Hương và người Hoa cộng lại chỉ chừng 2.000 người, tức khoảng 2%.
Trong con số ấy, người Hoa chừng hai nghìn kể cả trẻ con, còn người Minh Hương chỉ còn vài trăm. Ông ghi thêm một vế mà không thống kê nào đếm được: con số vài trăm ấy không tính những người Minh Hương đã Việt hóa hoàn toàn và không còn biết mình là hậu duệ Minh Hương nữa.
- “Về tổ chức bang, Minh Hương xã và Thanh Hà phố của người Hoa ở Việt Nam” — Khoa Văn học và Ngôn ngữ, ĐHKHXH&NV TP.HCM; phân biệt bang với Minh Hương xã, dẫn chỉ dụ tháng 7 năm 1827 đổi chữ Hương, và dẫn Chen Ching-Ho 1960
- “越南會安古城當代明鄉人、華人及越南人之互動關係與文化接觸” — Điền dã ba đợt 2012–2014 ở Hội An, đăng 《亞太研究論壇》số 61 (12/2015), tr. 131–155, Viện Nghiên cứu Trung ương Đài Bắc
- Tìm hiểu hoạt động ngoại thương của cộng đồng người Hoa ở Hội An (XVI – XVIII)
- “Kiến trúc cổ các hội quán của người Hoa ở Hội An (Quảng Nam)” — Trung tâm QLBT Di sản Văn hóa Hội An; niên đại từng hội quán và hệ khung đỡ mái
- “Tục thờ Chiêu Ứng của người Hoa Hải Nam” — dẫn nguyên văn Đại Nam thực lục về vụ án 1851 và kê hiện trạng thờ tự ở Huế, Hội An, Đà Nẵng
- “Lễ vía Quan Công” — Trung tâm QLBT Di sản Văn hóa Hội An; niên đại Quan Công miếu và trình tự lễ
- “Sejarah migrasi dan dasar pemerintahan Gia Long dan Minh Mang ke atas masyarakat Minh Huong di Hoi An, 1820–1840” — Universiti Sains Malaysia (tiếng Mã Lai)
- “Một số thông tin về Hội An, Quảng Nam qua ghi chép của Quốc sử quán triều Nguyễn trong Đại Nam thực lục”
- Ảnh mặt tiền hội quán Quỳnh Phủ (Hải Nam) ở Hội An chụp đúng dịp lễ vía; băng-rôn và cờ hội trong ảnh ghi tên lễ và ngày âm lịch
- “Về Hội An, dự lễ vía Quan Công” — Báo Văn Hóa
- Mục “Hội quán” — Trung tâm QLBT Di sản Văn hóa Hội An
- “Phố cổ Hội An” — Wikipedia tiếng Việt
- “Về một ngôn ngữ lai (Lingua-Franca) ở Hội An – Đà Nẵng vào thế kỷ XVIII”
- “Đô thị cổ Hội An” — Wikipedia tiếng Việt (khoảng sáu mươi nóc nhà Nhật ven sông đầu thế kỷ XVII; miếu Quan Công 1653; hội quán Phúc Kiến 1697 / 1759 / 1792; quân Trịnh tàn phá 1775; Cửa Đại bồi lấp; UNESCO ghi danh 1999 và chừng 1.360 di tích)
- Lịch sử — Văn hóa Hội An, trang tổng thuật của Trung tâm QLBT Di sản Văn hóa Hội An
- Nhớ về thương cảng Hội An — Phố cổ Hội An
- Thông tin nghiên cứu bảo tồn di sản — Chuyên đề: Di tích Chùa Cầu / Journal of Research in Heritage Preservation, Vol 03(55)-2021, Theme: The Japanese Covered Bridge (song ngữ Việt–Anh, 182 trang, 24 bài)
- Hải ngoại kỷ sự — khảo cứu kèm trích nguyên văn bản dịch Viện Đại học Huế 1963
- Phủ biên tạp lục — trọn 6 quyển, bản dịch Ngô Lập Chí, Khoa Xã hội, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, 1959
- Đồ sứ Hizen - Nhật Bản phát hiện ở Hội An
- “Minh Hương” — Wikipedia tiếng Việt (di thần nhà Minh được các chúa Nguyễn thu nhận, cấp đất và lập làng riêng; đến 1698 làng Minh Hương tách khỏi làng Thanh Hà của người Thanh sang sau; con cháu họ về sau nói tiếng Việt)
- Thương cảng Hội An: Nhìn từ lịch sử huy hoàng — Báo Pháp Luật Việt Nam
- Sự hình thành và phát triển của Đô thị thương cảng Hội An trong bối cảnh hàng hải thế giới thế kỷ XVI–XVII — Trung tâm QLBT Di sản Văn hóa Hội An
- Hội An - trung tâm giao thương khu vực và quốc tế
- Tran Phu street of Hoi An in 2015 — Vuong Tri Binh, CC BY-SA 4.0
