Một đoạn cuộn tranh Nhật vẽ chuyến buôn sang Giao Chỉ: chiếc thuyền lớn buồm vuông giữa sóng, phía bờ là dãy phố mái ngói và người đi lại.
Cuộn *Giao Chỉ quốc mậu dịch độ hải đồ* của nhà Chaya · Wikimedia Commons · phạm vi công cộng
CON NGƯỜI · CỘNG ĐỒNG

Thương nhân Nhật Bản

Ba ngôi mộ và một cái tên

Cộng đồng người Nhật ở Hội An có ngày mở và có ngày đóng, chuyện hiếm trong kho này. Mạc phủ cấp giấy cho họ đi từ năm 1602 và gọi họ về năm 1635. Mấy người không lên tàu, và mộ của họ vẫn còn trên đất Hội An, do người Việt trông coi.

TRƯỚC KHI CÓ TỜ GIẤYCuối thế kỷ XVI

Họ tới trước khi cái phố có tên

Mốc sớm nhất mà hồ sơ về cộng đồng này dẫn ra được chỉ là một dòng ghi bên lề. Một giáo sĩ kể lại chuyện xảy ra nhân một sự cố về đạo giáo, và tiện tay chép rằng trên đường ra Đà Nẵng có nhiều thương gia Nhật Bản trên chiếc tàu đậu năm 1583.

Bản in đen trắng chép lại tranh xưa: một chiếc thuyền viễn dương lớn buông buồm đậu ngoài bờ, những chiếc thuyền chèo nhỏ ra đón, và mái phố hiện ở góc trên bên trái.Bản chép một bức tranh thế kỷ XVI–XVII · người tải lên: Vuvietanh6204 · CC0
Thuyền Nhật đậu ngoài bến, thuyền nhỏ ra đón

Chỗ họ ghé vào không phải bãi hoang. Làng Hoài Phố đã có tên trong sách địa chí xứ Thuận Quảng từ cuối thế kỷ XVI, và đó là làng người Việt. Người Nhật đến ở trong một cái làng có sẵn chủ chứ không dựng riêng một khu trên đất trống.

Lúc đầu họ đi theo mùa gió, buôn xong thì về. Rồi họ dựng kho, dựng nhà, dựng bến. Chỗ tạm thành chỗ ở.

TỜ GIẤY ĐỎ1602 – 1635

Ra khơi phải có dấu son

Từ năm 1600, quyền điều hành nước Nhật nằm trong tay các shogun theo thể chế Mạc phủ, còn ngôi Thiên hoàng chỉ mang tính nghi thức. Chín năm trước đó, năm 1591, một vị quan họ Nguyễn ở Đàng Trong đã gửi thư sang cho Toyotomi Hideyoshi xin kết mối giao thương. Cửa mở từ cả hai phía.

Để chấn chỉnh ngoại thương, Mạc phủ đặt ra chế độ châu ấn thuyền, cấp châu ấn trạng cho thuyền buôn Nhật đi hải ngoại. Chế độ ấy chạy từ năm 1602 đến năm 1635. Hội AnTHỜI ĐẠI · THƯƠNG CẢNGFaifo, thế kỷ thương cảngk. 1523 – 1778Mỗi năm một mùa gió, tàu Nhật, tàu Hoa và tàu Bồ vào một cửa sông ở Quảng Nam rồi ở lại bốn tháng. Chúa Nguyễn thu thuế theo nơi tàu đến, cao nhất là tàu Tây dương, tám nghìn quan một chuyến vào cửa. nằm đúng trên tuyến nối Trung Hoa với Nhật Bản và Đông Nam Á, nên nó thành một chỗ dừng có tính toán chứ không phải tình cờ.

Tranh màu trên giấy: thuyền viễn dương thân gỗ nâu cong vút, hai buồm nan kẻ ô đỏ xanh và ba buồm vải trắng, thủy thủ đứng rải trên boong.Ngoại phiên thư hàn, Kondō Jūzō soạn, hoàn thành 1818 · Lưu trữ Quốc gia Nhật Bản · phạm vi công cộng
“Tự Trường Kỳ đáo An Nam quốc thuyền đồ” — thuyền đi từ Nagasaki sang An Nam

Đếm số giấy đã cấp thì hai lối đếm không khớp nhau. Một lối cho biết trong quãng 1604 – 1634 Mạc phủ cấp ra 354 tờ, trong đó 130 tờ cho thuyền buôn thẳng với Đại Việt và 86 tờ cho thuyền vào Hội An. Sử gia Nhật Iwao Seiichi đếm 355 tờ cho quãng 1604 – 1635, rồi tính theo chuyến thì được 85 chuyến vào Đàng Trong. Chỗ vênh nằm ở đơn vị: tờ giấy phép và chuyến thuyền không phải một thứ.

Hai lối đếm gặp nhau ở một chỗ. Trong cả vùng Đông Nam Á, không nơi nào nhận nhiều thuyền châu ấn hơn Đàng Trong.

MỘT PHỐ TRONG MỘT PHỐĐầu thế kỷ XVII

Hai thành phố kề nhau

Cristoforo Borri ở Đàng Trong bốn năm, và bản tường trình của ông lấy luôn năm 1621 làm nhan đề. Ông chép rằng FaifoTÊN THƯƠNG NHÂN GỌI HỘI ANFaifoCái tên thương nhân nước ngoài ghi trong sổ sách để gọi Hội An, thường được giải thích là từ Hoài Phố (có nơi chép Hải Phố). Đó là tên một chỗ ghé buôn, không phải tên một nhượng địa: cái phố nằm dưới quyền các chúa Nguyễn, và thương nhân ở đó là nhờ chúa cho phép.“Hội An” — Wikipedia tiếng Việt lớn đến mức có thể nói là hai thành phố, một phố người Tàu và một phố người Nhật. Mỗi phố có khu vực riêng, có quan cai trị riêng, sống theo tập tục riêng.

Kiều dân Nhật ở đây có quyền tự trị. Họ giữ vai trò lãnh sự và phiên dịch giữa thương nhân Nhật với chính quyền địa phương, điều hành mạng lưới hãng buôn và kho hàng, lo cả chỗ ở cho thương nhân và thủy thủ Nhật mỗi khi tàu cập bến. Khu phố vận hành như một đặc khu, dưới sự giám sát chung của chính quyền chúa Nguyễn.

Chi tiết tranh cuốn: chiếc thuyền sơn đỏ buộc ở bãi cát, một vọng lâu xây gạch, và ngôi nhà mở nơi vị quan ngồi tiếp những người khách quỳ giữa rương sơn và vải vóc.Từ tranh cuốn “Chaya Shinroku Kōchi tokō zukan”, chùa Jōmyō-ji, Nagoya · phạm vi công cộng
Thương nhân Nhật vào trình diện ở dinh trấn Quảng Nam

Không phải ai trong phố ấy cũng đi buôn. Cùng lúc ấy Mạc phủ đang cấm đạo ở Nhật, nên trong đám người Nhật ở phố cảng phương Nam có cả người đi tránh. Một trú sở Dòng Tên trong xứ có bốn người, hai linh mục và hai sư huynh, giảng cho người bản xứ và cho cả người Nhật đến buôn bán. Bản báo cáo của họ ghi một con số: rửa tội được 82 người, trong đó 27 người lớn.

Cũng bản báo cáo ấy chép một đổi khác nhỏ mà rõ. Những năm trước ở đây chỉ có 2 đám cưới chính thức, còn năm nay thì tất cả đều làm đám cưới chính thức, và người Nhật giờ cưới đàn bà làm vợ chứ không giữ làm nàng hầu như trước.

Con số 82 nhỏ. Nhưng nó cho biết cái phố ấy không chỉ có hàng hóa đi qua.

MỘT CHIỀU BẠC, MỘT CHIỀU TƠMỗi năm bốn tháng

Họ chở kim loại tới, chở cây cỏ về

Vai trò của thương nhân Nhật không chỉ là mua và bán. Họ là khâu lưu thông kim loại quý. Bạc từ Nhật đổ vào Hội An và đổi lấy tơ lụa, quế, trầm hương cùng các sản vật khác của Đàng Trong. Cùng chiều ấy, thuyền Nhật còn chở tới đồ sứ, đại bác, thuốc súng, giấy và khoáng sản.

Việc buôn bán gói trong những kỳ chợ phiên kéo dài bốn tháng. Borri chép rằng ở mỗi kỳ như thế, người Trung Hoa đưa vào một lượng hàng trị giá bốn đến năm triệu tính bằng bạc, còn người Nhật tới với vài chiếc tàu mà họ gọi là Somme, chở theo một lượng lụa lớn rất mịn.

Chính Borri giải thích chỗ lạ nhất của cái chợ ấy. Bạc ở đây không phải tiền. Nó là một món hàng, khi thì có giá khi thì kém giá, tùy lúc nhiều hay hiếm, y như lụa.

BÊN NÀY SÔNG VÀ BÊN KIA SÔNGĐầu thế kỷ XVII

Ai đông hơn ai, một bức tranh trả lời

Nhà Chaya ở Nagasaki cho vẽ một cuộn tranh chép lại chuyến buôn sang Giao ChỉTÊN QUẬN THỜI HÁNGiao Chỉ · 交趾“Giao Chỉ” là tên quận do nhà Hán đặt cho vùng đất Việt từ thế kỷ 2 TCN, sau lan rộng thành tên gọi Trung Quốc và Nhật Bản dùng chỉ cả nước Việt — và chính cách phát âm này là gốc của từ “Cochinchina” mà phương Tây dùng gọi Đàng Trong, vùng đất có thương cảng Hội An sầm uất thế kỷ 16–18., niên đại đầu thế kỷ XVII, nay giữ ở chùa Jōmyō-ji tại Nagoya. Trong tranh có một đoạn vẽ hai khu phố ở Hội An, ghi rõ chữ: phố người Nhật là Nhật Bản đinh, phố người Hoa là Đường Nhân đinh.

Hai khu vẽ không giống nhau. Phố Nhật là một dãy nhà ngói hai tầng khá dài, bên cạnh có khu họp chợ với nhiều lều và nhiều người đi lại. Phố Đường là ba dãy nhà mái lá ngắn dựng trên cột, hai dãy dọc một dãy ngang, nằm bờ nam đối diện. Người nghiên cứu bức tranh cho rằng vào đầu thế kỷ XVII, phố Nhật sầm uất hơn hẳn phố Hoa.

Chi tiết tranh cuốn có dòng chữ 日本町: dãy mái ngói men theo mặt nước, người đi trên con phố cao, và những người khách trên khoảng đất phía trên.Tranh cuốn Nhật Bản, đầu thế kỷ XVII · không rõ tác giả · phạm vi công cộng
“Nhật Bản đinh” — phố Nhật, qua nét vẽ của một họa sĩ Nhật

Tấm bia Phổ Đà Sơn khắc năm 1640 ở động Hoa Nghiêm cho một con số đứng cạnh bức tranh ấy. Trong danh sách người cúng tiền dựng chùa, người Nhật có 13 cá nhân và gia đình, người Hoa chỉ có 3.

Rồi chỗ đứng của hai bên đảo ngược. Sau năm 1635, người Nhật hết nguồn bổ sung, còn người HoaĐỊA ĐIỂM · KHU PHỐKhu phố người HoaThế kỷ XVI · đến nayNgười Hoa tới Hội An theo gió mùa và định về theo gió mùa, nên người trong phố gọi họ là người Tàu, nghĩa là người đi thuyền tới. Rồi một số ở lại, và nhà nước phải nghĩ ra một thân phận cho họ. tiếp tục sang và lấp vào chỗ trống. Cái quyết định phố nào còn lại không nằm ở Hội An mà nằm ở hai triều đình cách đó mấy nghìn dặm biển.

MỘT NGƯỜI ĐI THEO CHỒNG1619 – 1645

Hai mươi sáu năm ở Nagasaki

Araki Sotaro tới Nagasaki năm 1588 rồi bắt đầu nghề buôn bằng thuyền. Năm 1619, ông cưới một người con gái ở Đàng Trong và được chúa nhận làm con nuôi. Đám cưới ấyTHỜI ĐẠI · THƯƠNG CẢNGFaifo, thế kỷ thương cảngk. 1523 – 1778Mỗi năm một mùa gió, tàu Nhật, tàu Hoa và tàu Bồ vào một cửa sông ở Quảng Nam rồi ở lại bốn tháng. Chúa Nguyễn thu thuế theo nơi tàu đến, cao nhất là tàu Tây dương, tám nghìn quan một chuyến vào cửa. là mốc quen thuộc nhất của quan hệ Việt – Nhật thời thương cảng. Phần ít người kể là quãng đời sau đó.

Có một chỗ phải nói rõ trước. Người Nhật gọi bà là công chúa, nhưng gia phả nhà Nguyễn không chép người con gái nào tên Ngọc Hoa. Tấm bia mà Iwao Seiichi dẫn lại chỉ chép rằng năm 1619 Araki Sotaro kết hôn với một người con gái thuộc dòng bên ngoại vua An Nam, rồi được chúa nhận làm con nuôi. Tờ giấy phép kết hôn ghi bà bằng hai chữ Hán có nghĩa là người được bảo hộ.

Một đoạn tranh cuộn: người ngồi trong kiệu rước sau tấm rèm đỏ, mặc áo dài tay hoa văn xanh lục, đội mũ nhỏ trên búi tóc đen.Cuộn “Khi dương Tưu Phóng minh thần tế tự đồ”, thế kỷ XIX · không rõ tác giả · phạm vi công cộng
Người đóng vai bà trong đám rước ở Nagasaki, vẽ trên tranh cuộn lễ Suwa Myōjin thế kỷ XIX

Năm 1620 bà theo chồng về Nhật. Mười lăm năm sau Araki Sotaro mất, và bà không rút về sau bàn thờ. Bà tiếp tục làm sổ sách kế toán ở cơ sở kinh doanh của chồng, và làm việc với thương nhân vùng Nagasaki, chủ yếu là thúc đẩy buôn bán với triều đình chúa Nguyễn.

Ở Nagasaki người ta gọi bà là Anio-san. Cái tên ấy từ đâu ra thì có hai lối giải. Một lối cho là phiên âm của chữ A Nương. Một lối cho là bà quen gọi chồng bằng tiếng anh, người quanh đó nghe thành Anio rồi dùng luôn. Chưa lối nào chốt được.

Bà sống 26 năm ở Nhật Bản, mất năm 1645, và được chôn ở Đại Âm tự giữa trung tâm thành phố Nagasaki. Người ta kể chuyện bà đến đám cưới là hết. Hai mươi sáu năm sổ sách thì không ai dựng lại.

LỆNH GỌI VỀNăm 1635

Chuyến tàu cuối cùng

Năm 1635 Mạc phủ Tokugawa ra lệnh tất cả người Nhật ở Hội An phải rút về nước. Cũng năm ấy chế độ châu ấn thuyền chấm dứt. Cái giấy phép mở ra một cộng đồng, và cái lệnh đóng nó lại, cách nhau đúng ba mươi ba năm.

Tranh màu một chiếc thuyền buôn viễn dương: thân gỗ nâu, hai buồm nan lớn kẻ ô, mấy cánh buồm vải trắng, thủy thủ mặc áo xanh áo lục đứng dọc boong.Tranh Nhật thế kỷ XVII · không rõ tác giả · phạm vi công cộng
Thuyền vượt biển của Araki Sotarō, loại thuyền đã thôi ra khơi sau năm 1635

Thương nhân Nhật lần lượt rời Hội An. Từ đó cộng đồng mất nguồn bổ sung người, mất luôn dây nối với chính quốc, và bắt đầu tàn.

Nhưng trên chuyến tàu cuối cùng ấy vắng mặt mấy khuôn mặt đại thương gia. Họ ở lại.

NGƯỜI KHÔNG VỀ ĐƯỢC NỮA1631 – 1672

Cửa đóng với thuyền, thư thì vẫn lọt

Trong đám người ở lại có một người mà bên Nhật còn giữ đủ giấy tờ. Kadoya Shichirobei Eikichi sinh năm 1610 ở phố Cảng thành Matsusaka xứ Ise, con thứ hai của một chủ hiệu thuyền buôn. Bản tính của nhà ông là Matsumoto.

Năm 1631, hai mươi hai tuổi, ông đi chuyến biển đầu tiên sang Giao Chỉ. Hai năm sau lệnh cấm ra biển ban xuống. Lệnh đầu năm 1633 cấm người Nhật đã ở nước ngoài quá 5 năm trở về, rồi lệnh năm 1635 cấm luôn việc từ Đông Nam Á hồi hương. Ông không về được nữa và sống hết đời ở An Nam.

Ở Hội An ông làm trưởng phố Nhật. Một khảo cứu Nhật chép rằng từ năm 1633 đến năm 1672 có 6 người lần lượt đứng đầu quản khu phố ấy, tức là cái phố bị gọi về vẫn còn người cai quản thêm gần bốn mươi năm nữa.

Suốt thời nước Nhật đóng cửa, ông vẫn gửi thư về cho gia đình và họ hàng ở Ise, và vẫn cúng dường cho đền Ise cùng các chùa quanh thành Matsusaka. Ông mất năm 1672. Bia thờ ông và người trong họ nay còn ở chùa Raikoji, thành phố Matsusaka xếp hạng di tích năm 1985. Hồ sơ Nhật chép rằng năm 1928 ông được truy tặng hàm tòng ngũ phẩm.

Chưa có trong kho
Cần hiện vật · bia thờ người ở lại, dựng ở quê ông

Chỗ đáng nhìn nằm ở cái họ. Bản tính Matsumoto viết bằng chữ Hán là Tùng Bản, và trên bia Phổ Đà Sơn năm 1640 có một cặp vợ chồng khai địa chỉ là Tùng Bản dinh.

NGÔI MỘ THỨ NHẤTNăm Kỷ Tỵ

Sáu mươi năm không ai chốt được

Người Nhật nằm lại đất này không phải chỉ có mấy người. Nhà nghiên cứu ở Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di sản Văn hóa Hội An cho biết ở Hội An có 40 ngôi mộ Nhật. Ba ngôi lớn nhất và dễ tới nhất nằm gần nhau: từ ngôi thứ nhất lên ngôi thứ hai 300 mét, sang ngôi thứ ba 600 mét.

Ngôi ở khối An Phong, phường Tân An là mộ ông Gusokukun. Bia bằng sa thạch màu xám, lòng bia khắc hai chữ Nhật Bản rồi đến tên người và dòng niên đại: năm Kỷ Tỵ, tiết trọng thu, ngày lành dựng bia.

Năm Kỷ Tỵ ấy quy ra dương lịch thì hồ sơ của chính cơ quan quản lý để ngỏ hai khả năng, 1629 hoặc 1689. Một vòng can chi là sáu mươi năm, và sáu mươi năm ấy là khoảng cách giữa một người chết lúc phố Nhật còn đông với một người chết lúc phố Nhật đã tan. Báo chí thường chép 1629.

Ông là một thương nhân giàu có và nhiều thế lực, và có tài liệu nói ông còn là người đứng đầu, điều hành toàn bộ hoạt động của phố Nhật ở Hội An.

Chưa có trong kho
Cần hiện vật · mặt bia ngôi mộ thứ nhất

Ngôi mộ hư hại gần như hoàn toàn. Có thời chỉ còn bia mộ và tấm văn bia trùng tu năm 1928, hai thứ ấy phải đưa về gửi tạm ở Minh Hương Phật tự. Năm 2000 tập đoàn Taisei bỏ tiền tu bổ, bia được đưa lại chỗ cũ. Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam ghi ngôi mộ vào danh mục di tích đăng ký bảo vệ giai đoạn 2019 – 2024.

NGÔI MỘ THỨ HAINăm Đinh Hợi

Người quay lại sau khi đã bị gọi về

Ở cánh đồng Trường Lệ, trên một gò đất cao giữa ruộng lúa, có mộ thương nhân Tani Yajirobei. Bia sa thạch ghi tên ông cùng dòng năm Đinh Hợi, tức 1647, và hai bên hàng giữa khắc bốn chữ Nhật Bổn, Bình Hộ. Bình Hộ là Hirado, một cửa biển gần Nagasaki, quê ông.

Nấm mộ đắp bằng thứ vữa hợp chất pha từ bột vỏ sò và vỏ hến khô với cây bời lời và mật mía, giống mọi ngôi mộ cổ khác ở Hội An.

Bên mộ nay dựng 4 tấm bia khắc bằng 4 thứ tiếng: Việt, Nhật, Anh và Pháp. Chữ trên bia chép rằng vì lệnh bế môn tỏa cảng, ông phải từ Hội An trở về quê hương, rồi sau đó tìm mọi cách quay lại để chung sống với người yêu của mình là một cô gái người Hội An cho đến khi từ biệt cõi đời.

Người trông coi ngôi mộ nhiều năm nay là ông Nguyễn Đình Hưng, tổ trưởng tổ dân phố ngay chỗ ấy. Ông muốn làm cho ông Tani một ngày giỗ, nhưng không biết ngày mất nên không dám làm bừa. Gặt lúa xong, mấy người làm ruộng Trường Lệ mang cơm mới ra cúng tại mộ.

Chưa có trong kho
Cần hiện vật · ngôi mộ giữa ruộng và bốn tấm bia

Đường đá dẫn ra mộ có từ năm 1997, khi Đại học Nữ Chiêu Hòa bên Nhật hỗ trợ một đợt tu bổ lớn. Trước đó muốn vào mộ phải lội qua cánh đồng lầy. Ông về sau khi cửa đã đóng, và người ở đây giữ chỗ cho ông.

NGÔI MỘ THỨ BANăm Ất Tỵ

Nửa mét cát và sáu đời người

Mộ thương nhân Banjiro nằm cạnh đường Hai Bà Trưng, khối phố Trường Lệ, ngay sát sân và móng nhà một hộ dân. Bia ghi năm Ất Tỵ, tức 1665, ba mươi năm sau cái lệnh gọi người Nhật về nước.

Phía sau mộ có một tấm bia xi măng khắc chìm chữ Nhật. Nội dung của nó: năm Chiêu Hòa thứ 3, tức 1928, theo đề xuất của giáo sư văn học Kuroita Katsumi, những người Nhật cư trú ở Đông DươngTÊN LIÊN BANG THUỘC ĐỊAĐông DươngCái tên người châu Âu đặt cho dải đất nằm giữa Ấn Độ và Trung Hoa, ghép từ tên hai nước lớn hai bên chứ không từ tên người ở đó. Năm 1887 người Pháp lấy nó đặt cho liên bang họ dựng lên gồm Nam Kỳ, Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Cao Miên, đến năm 1893 thêm Lào. Cho nên tư liệu thời thuộc địa nói Đông Dương là nói một bộ máy cai trị trải trên ba nước, không phải nói nước Việt Nam.French Indochina — English Wikipedia đề nghị ông Nakayama phụ trách giám sát việc tu sửa ngôi mộ này. Cả ba ngôi mộ Nhật ở Hội An đều còn tấm bia ấy.

Rồi chiến tranh kéo dài, và có thời điểm ngôi mộ bị vùi dưới nửa mét đất cát. Năm 1975, người dân quanh đó trở về nhà, thấy mộ đã lấp, bèn chung tay đào lớp đất lên.

Chưa có trong kho
Cần hiện vật · tấm bia chữ Nhật năm 1928

Bà Dương Thị Sáu, nhà ngay cạnh mộ, kể rằng mộ được nhà chồng bà chăm sóc từ nhiều đời trước, rồi chiến tranh làm mất dấu, rồi sau ngày giải phóng chồng bà trở lại mảnh đất hương hỏa và sửa sang lại. Mỗi năm đến ngày giỗ lớn của gia đình, bà sắm lễ cúng ông Banjiro, trong nhà cúng thế nào thì trên mộ cúng y vậy. Con rể bà, ông Trần Xuân Lịnh, thay bà nhang khói những hôm bà vắng. Tính đến nay nhà ấy đã 5 đến 6 đời chăm ngôi mộ.

Ba ngôi mộ Nhật ở Hội An, cả ba đều do người Việt trông coi.

THỨ NẰM DƯỚI ĐẤTKhai quật từ 1990

Đồ sứ Hizen trong lòng phố

Hizen là tên cũ của một vùng trên đảo Kyushu thời Edo, nay phía đông thuộc tỉnh Saga và phía tây thuộc tỉnh Nagasaki. Nghề sứ ở đó bùng lên từ đầu thế kỷ XVII, sau cuộc chiến với Triều Tiên, khi các lãnh chúa Kyushu đưa thợ gốm Triều Tiên về. Kỹ thuật làm sứ là bí mật tuyệt đối, người thợ được lãnh chúa nuôi nhưng bị cắt khỏi bên ngoài.

Các đợt khảo sát và khai quật ở Hội An từ năm 1990 đến nay cho thấy đây là nơi xuất hiện rất nhiều đồ sứ Hizen. Ngoài khu phố cổ có di tích Trảng Sỏi và Thanh Chiếm. Trong phố thì có hội quán Triều Châu, đình Cẩm Phô, và mấy ngôi nhà trên đường Trần Phú.

Đĩa sứ tròn men trắng vẽ lam: lòng đĩa vẽ núi, cây và mái nhà bên nước, quanh vành là băng hoa văn hình mây và một băng răng cưa. Mép đĩa có vết hàn bằng vàng.Bảo tàng Gốm sứ Kyushu, hiện vật 0548-59 · ảnh: Pekachu · CC BY-SA 4.0
Đĩa Arita vẽ lam, thập niên 1640–1650 — cùng loại đồ mà khảo cổ Hội An tìm được, nhưng không phải hiện vật đào ở Hội An

Hố đào ở nhà thờ tộc Tăng cho bộ sưu tập dày nhất. Sứ Hizen nằm ken dày ở đó, và cạnh nó là một cái bếp lò bằng đất nung, dấu của một chỗ người ta từng nấu ăn.

Cộng đồng ấy không để lại một ngôi nhà nào đứng nguyên. Trên mặt đất chỉ còn một công trình, và nó có mục riêng: cây cầuĐỊA ĐIỂM · PHỐ CỔChùa CầuNgười Nhật bỏ vốn, thợ Việt dựng, làng người Hoa giữ, một vị chúa cho ba chữ. Qua tám lần hạ giải, chỗ còn gần như nguyên vẹn của cây cầu bốn trăm tuổi là cái móng. mà người trong phố vẫn gọi là cầu Nhật Bản, tương truyền dựng từ thời phố Nhật. Cái còn lại của cộng đồng nằm dưới nền nhà người khác.

NGƯỜI NHẬT NAY ĐI TẢO MỘMùa Vu Lan

Về thăm người đã đi trước

Ở Nhật, dịp Obon là dịp các gia đình ra quét mộ, lau bia và thắp đèn lồng đón tổ tiên về. Cộng đồng người Nhật đang sống ở Hội An làm việc ấy vào mùa Vu Lan, và họ ra chính ba ngôi mộ kia.

Không ai trong số họ là con cháu của ba người nằm dưới. Một giáo sư Nhật ở Đại học Nữ Chiêu Hòa nói thẳng rằng bên Nhật không tìm ra hậu duệ của những nhà buôn ấy. Họ đến vì ba người kia là người Nhật, chết ở đây, và không còn ai bên nhà để nhớ.

Trong đoàn đi tảo mộ mùa Vu Lan có người còn có mộ nhà mình để thăm. Một người tên Tomo Usuda cùng mẹ ra thăm mộ bà của anh, bà Tani Toshiko, mất lúc 93 tuổi và chôn ở Hội An.

Cùng chuyến ấy họ đến chỗ tưởng niệm La Hối. Ông tên thật là La Doãn Chánh, sinh năm 1920 ở làng Minh Hương Hội An, lập Hội Yêu âm nhạc rồi tham gia tổ chức chống Nhật của thanh niên Hoa kiều. Ông rơi vào tay quân Nhật, bị tra khảo, rồi bị giết cùng 9 người khác ở chân núi Phước Tường ngày 2 tháng 4 năm 1945. Năm ấy ông 25 tuổi.

Bưu ảnh tô màu bằng tay: đám đông đội mũ rơm chen kín khoảnh sân trước một tòa nhà mái tranh lớn, rèm tím treo dọc hiên. Chữ Nhật in ở trên và dòng chữ Pháp ở dưới.Bưu ảnh · phạm vi công cộng
Lễ ở đền Suwa, Nagasaki, trên một tấm bưu ảnh tô màu đầu thế kỷ XX

Họ thắp hương ở cả hai chỗ. Người của họ nằm lại đây, và người bị quân đội nước họ giết cũng nằm lại đây.

DỰNG LẠI MỘT ĐÁM CƯỚIHội An hôm nay

Bốn trăm năm sau, đám rước đi lại một lần nữa

Hội An dựng lại đám cưới của Araki Sotaro và người con gái Đàng Trong trong các kỳ giao lưu văn hóa Việt – Nhật, lần đầu vào năm 2016.

Bên kia biển, lễ hội Okunchi ở Nagasaki mỗi năm mở từ ngày 7 đến ngày 9 tháng 10 và dựng lại chiếc thuyền buôn. Một bé trai đóng Araki mặc yukata, một bé gái đóng bà mặc áo dài. Hai đầu của một chuyến đi thế kỷ XVII, mỗi đầu diễn lại một nửa.

Một ngôi miếu mái ngói cong với trụ biểu hai bên sân, nhìn qua hàng rào con tiện sơn vàng và trắng, cây xanh hai bên, trời nhiều mây.Ảnh 2015 · Vuong Tri Binh · CC BY-SA 4.0 · người chụp ghi đây là miếu trên đường Công nữ Ngọc Hoa
Một ngôi miếu trên con đường mang tên bà ở Hội An

Ngày 13 tháng 2 năm 2004, Hội An lấy tên Công nữ Ngọc Hoa đặt cho một tuyến đường trong phố cổ, chạy từ kênh Chùa Cầu tới ngã ba Hùng Vương – Trần Hưng Đạo, dài 300 mét. Năm 2023 vở opera mang tên bà công diễn ở Nhà hát Lớn Hà Nội, và câu chuyện còn được vẽ thành truyện tranh.

Một kiệu tán lớn quấn dây thừng bện, trống và cành lá dựng trên nóc, được mấy người mặc áo nâu và áo lục khiêng đi giữa phố, đám đông đứng xem hai bên.Ảnh tháng 10/2012 · Masoud Akbari · CC BY-SA 3.0
Đám rước Kunchi ở Nagasaki

Cái được dựng lại là đám cưới, không phải cái tiếp theo: hai mươi sáu năm làm sổ sách ở một thành phố xa, và ba ngôi mộ ngoài rìa phố.

LẦN THEO MẠCH CHUYỆN
BUÔN BÁN TẠI · bạc đổi lấy tơFaifo, thế kỷ thương cảngTHỜI ĐẠI · THƯƠNG CẢNGMỗi năm một mùa gió, tàu Nhật, tàu Hoa và tàu Bồ vào một cửa sông ở Quảng Nam rồi ở lại bốn tháng. Chúa Nguyễn thu thuế theo nơi tàu đến, cao nhất là tàu Tây dương, tám nghìn quan một chuyến vào cửa.CHIA BẾN VỚI · hai bờ sôngKhu phố người HoaĐỊA ĐIỂM · KHU PHỐNgười Hoa tới Hội An theo gió mùa và định về theo gió mùa, nên người trong phố gọi họ là người Tàu, nghĩa là người đi thuyền tới. Rồi một số ở lại, và nhà nước phải nghĩ ra một thân phận cho họ.ĐƯỢC CHO LÀ DỰNG · tương truyềnChùa CầuĐỊA ĐIỂM · PHỐ CỔNgười Nhật bỏ vốn, thợ Việt dựng, làng người Hoa giữ, một vị chúa cho ba chữ. Qua tám lần hạ giải, chỗ còn gần như nguyên vẹn của cây cầu bốn trăm tuổi là cái móng.ĐƯỢC CHO LẬP · thư rồi cướiThời các chúa NguyễnTHỜI ĐẠI · ĐÀNG TRONGChín đời chúa cai quản Đàng Trong hơn hai trăm năm bằng một bộ máy sống nhờ biển: thuế đánh vào thuyền buôn ghé cảng, và mỗi năm bảy mươi suất lính đi thuyền câu ra khơi ba ngày ba đêm nhặt hải vật đem về nộp. Khi cảng không nuôi nổi nữa, bộ máy ấy đổ trong ba năm.NEO TRÊNSông Thu BồnĐỊA ĐIỂM · SÔNGMỗi năm sông Thu Bồn đổ ra biển khoảng 20 km³ nước, nhiều hơn mọi con sông miền Trung, và 80 đến 90% lượng ấy dồn vào bốn tháng cuối năm. Phố cổ Hội An đứng trên một cồn cát do chính con sông này bồi nên.
ĐƯỢC NHẮC TỚI TRONG
NGUỒN
  1. Cộng đồng thương nhân Nhật Bản tại Hội An thế kỷ XVI - XVII: hình thành, phát triển và suy tàn
  2. Nhìn lại vai trò của người Nhật ở thương cảng Faifo – Hội An vào cuối thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII
  3. “Công tác quản lý, bảo tồn và phát huy các di tích liên quan đến Nhật Bản ở Hội An” — Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di sản Văn hóa Hội An
  4. “Mộ ông Tani Yajirobei — thương nhân Nhật Bản — Khối Trường Lệ, phường Cẩm Châu” — Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di sản Văn hóa Hội An
  5. “Mộ ông Banjiro — thương nhân Nhật Bản — Khối Trường Lệ” — Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di sản Văn hóa Hội An
  6. Đồ sứ Hizen - Nhật Bản phát hiện ở Hội An
  7. “Nhạc sĩ La Hối” — Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di sản Văn hóa Hội An
  8. Sự hình thành và phát triển của Đô thị thương cảng Hội An trong bối cảnh hàng hải thế giới thế kỷ XVI–XVII — Trung tâm QLBT Di sản Văn hóa Hội An
  9. Giao thương Việt - Nhật, nhìn từ thương cảng Hội An — Phố cổ Hội An
  10. “Di sản của công chúa Ngọc Hoa” — Phố cổ Hội An, Di sản văn hóa thế giới
  11. “Tái hiện đám cưới công nữ Ngọc Hoa và thương nhân Nhật Bản 400 năm trước” — Phố cổ Hội An
  12. “Dấu ấn văn hóa Nhật Bản trong lòng Di sản Hội An” — Phố cổ Hội An, Di sản văn hóa thế giới
  13. “Ngôi mộ thương nhân Nhật ở Hội An” — phóng sự tại chỗ ba ngôi mộ Banjiro, Tani Yajirobei và Gusokukun, kèm lời người trông coi
  14. “Japanese visit ancestors during Vu Lan Festival in Hội An” — Việt Nam News; cộng đồng người Nhật ở Hội An đi tảo mộ thương nhân thế kỷ XVII dịp Obon
  15. “Công nữ Ngọc Hoa” — Wikipedia tiếng Việt; dẫn Iwao Seiichi về nội dung tấm bia 1619, và nêu rõ gia phả nhà Nguyễn không chép người con gái nào tên Ngọc Hoa
  16. “ホイアンの日本町の今昔” — trích《現代ベトナムを知るための63章》bản in lần 3
  17. 「角屋七郎兵衛等供養碑 及 松本駝堂墓」 — hồ sơ di tích cấp thành phố, thành phố Matsusaka, tỉnh Mie
  18. 「角屋七郎兵衛」 — Wikipedia tiếng Nhật; thương nhân Ise sang An Nam 1631, làm trưởng phố Nhật Hội An, mất 1672
  19. “ホイアン” — Wikipedia tiếng Nhật (phố Nhật dài khoảng 300 m thế kỷ XVII, ba ngôi mộ thương nhân Nhật, cầu Nhật Bản)
  20. 荒木宗太郎 — hợp tuyển sáu từ điển bách khoa Nhật (kotobank)
  21. “Red seal ships” — Wikipedia tiếng Anh (chế độ giấy phép châu ấn trạng; hơn 350 chuyến trong khoảng 1604–1635; 74 thuyền tới Đàng Trong; các sắc lệnh toả quốc 1633–1639 chấm dứt việc ra khơi; các nhà buôn Chaya và Araki)
  22. Phổ Đà Sơn linh trung Phật — một văn bia quý ở Đà Nẵng
  23. BAVH 1919 số 4 — chứa chuyên khảo “Le Vieux Faifo”: I. Souvenirs chams · II. Souvenirs japonais (tr. 506–516) · III. Les tombes européennes (tr. 501–519). Khảo tả Faifo cổ của một người Pháp sống tại chỗ
  24. Trang mô tả hiện vật 0548-59 — đĩa sometsuke Arita, Bảo tàng Gốm sứ tỉnh Saga (Kyushu), qua Wikimedia Commons
  25. “Relation de la nouvelle mission des peres de la Compagnie de Iesus au royaume de la Cochinchine” — bản dịch Pháp văn 1631, 238 trang, quét từ Thư viện Trung ương Quốc gia Roma. Toàn văn 48.197 chữ; Faifo 38 lần, Turon 20, Pulucambi 12, Cacciam 5
LỜI NGỎ

Bạn còn cất giữ một tấm ảnh cũ, một tờ báo xưa, hay một câu chuyện về Thương nhân Nhật Bản? Gửi về Hội An Ký qua toiyeuvietnam@msn.com. Vốn quý của Hội An, là nhờ bà con mình cùng gìn giữ.

Gửi cho Hội An Ký →