Lên ngôi trước khi kịp lớn
Nguyễn Phúc Chu sinh năm 1675, con trưởng của chúa Nguyễn Phúc Thái. Năm 1691 cha mất, đình thần tôn ông lên nối nghiệp. Một khảo cứu về chuyến đi của Thích Đại Sán chép rằng khi cầm quyền ông mới mười bảy tuổi. Năm sinh và năm kế vị thì không nguồn nào cãi nhau.
Hai năm sau, năm 1693, quần thần tấn tôn ông làm Thái phó Quốc công và dâng tôn hiệu Quốc Chúa. Từ đó về sau, trong các sắc dụ về nội trị và ngoại giao, ông dùng hai chữ ấy.
Ông cầm quyền ba mươi tư năm. Trong quãng ấy ông cho đúc một quả chuông, dựng một tấm bia và viết ba chữ lên một tấm biển, và cả ba thứ đến nay vẫn còn, chuyện hiếm với một đời chúa
THỜI ĐẠI · ĐÀNG TRONGThời các chúa Nguyễn1558 – 1777Chín đời chúa cai quản Đàng Trong hơn hai trăm năm bằng một bộ máy sống nhờ biển: thuế đánh vào thuyền buôn ghé cảng, và mỗi năm bảy mươi suất lính đi thuyền câu ra khơi ba ngày ba đêm nhặt hải vật đem về nộp. Khi cảng không nuôi nổi nữa, bộ máy ấy đổ trong ba năm..
Người ông muốn gặp ở cách một vùng biển
Tháng 8 năm 1694, một sứ giả Đại Việt tới am Trường Thọ ở Quảng Đông. Người họ tìm là Thạch Liêm, hiệu Đại Sán, sư trụ trì am ấy, nổi tiếng khắp vùng Lãnh Nam vừa vì thiền học vừa vì tài thơ.
Đây không phải lần mời đầu. Chúa trước là Nguyễn Phúc Thái đã sai người sang rước, và đến lượt này thì đi kèm quốc thư của chúa cùng thư riêng của quốc sư Hưng Liên. Ba lần mời trong mấy năm cho một người ở cách một vùng biển.
Rằm tháng giêng năm 1695, Đại Sán đem hơn 20 tăng chúng lên thuyền ở Hoằng Phố. Ngày 27 tháng giêng thuyền tới Cù Lao Chàm ngoài cửa Hội An
THỜI ĐẠI · THƯƠNG CẢNGFaifo, thế kỷ thương cảngk. 1523 – 1778Mỗi năm một mùa gió, tàu Nhật, tàu Hoa và tàu Bồ vào một cửa sông ở Quảng Nam rồi ở lại bốn tháng. Chúa Nguyễn thu thuế theo nơi tàu đến, cao nhất là tàu Tây dương, tám nghìn quan một chuyến vào cửa., ở đó đổi sang chiến thuyền chúa sai ra đón, rồi thẳng vào Thuận Hóa.
Nghìn thợ trong ba ngày đêm
Bốn ngày sau khi khách tới, chúa sai quan Nội giám và Bộ Công đem hơn 1.000 lính và thợ, trong 3 ngày đêm dựng xong 5 gian phương trượng và 5 gian liêu xá làm chỗ ở cho thầy trò Đại Sán.
Lần tiếp kiến đầu, chúa mở lời trước. Ông nói ông hâm mộ đạo phong của lão hòa thượng đã lâu, nay may mắn được người chẳng vì đường xa mà bỏ, xin rũ lòng dạy bảo để biết đường ngay mà noi theo.
Đại Sán đáp rằng đạo của nhà vua nằm ở chỗ trị nước an dân; nếu người cai trị bỏ hết chính lệnh kỷ cương để cưỡng cầu thanh tịnh thì ấy là chưa biết thanh tịnh.
Giữa hai người có một bức tường không ai gỡ được. Đại Sán chép rằng ngôn ngữ chẳng thông hiểu nhau, tuy có thông ngôn cũng chưa chắc minh lý, mười điều phiên dịch không được ba bốn. Về sau, có việc gì muốn nói cho đủ, ông viết ra giấy.
Một nghìn bốn trăm người mặc cà sa
Có một tối chúa rước Đại Sán vào phủ, hai người đàm đạo tới nửa đêm. Trên tiệc, chúa nói tăng chúng trong nước phần đông chẳng giữ giới luật, nên ông sẽ phát lệnh bài đi các phủ bắt về, ai chịu đủ ba đàn giới mới được cấp giới điệp và miễn tô thuế.
Ngày mồng 1 tháng 4 pháp hội khai mạc. Mồng 6 truyền tỳ kheo giới. Mồng 8, đúng ngày Phật đản, chúa cùng mẹ, chị, hậu cung và người trong nhà đồng thọ Bồ Tát giới.
Ngày 12, hơn 1.400 người vừa thọ giới mặc cà sa, cầm bình bát, đi một vòng khất thực theo lối cổ rồi tạ ơn chúa. Chúa mời hai hàng sư vào cúng chay, ban thêm 300 quan tiền và 100 thạch gạo.
Từ pháp hội ấy chúa có pháp danh Hưng Long, đạo hiệu Thiên Túng đạo nhân, và nhận mình là người nối dòng Tào Động đời thứ 30.
Cái bảng treo trước phủ đường
Vì thông ngôn không chuyển hết ý, Đại Sán viết 4 điều ra giấy trình lên. Điều thứ hai bàn cách đặt binh giữ biên. Điều thứ ba bàn phép luân phiên cho lính về nhà cày cấy. Điều thứ tư xin lập nhà học để dạy con em.
Chỗ nặng nhất của bốn điều ấy đến từ cái Đại Sán trông thấy. Ông chép rằng trong nước trăm thứ thợ đều là quân nhân, và mỗi năm vào quãng tháng ba tháng tư quân nhân ra làng bắt dân, ai từ 16 tuổi trở lên mà thể chất cường tráng đều bắt sung quân, xiết cổ bằng một cái gông tre.
Ngày 25 tháng 4, chúa yêu cầu ông chép lại đủ những gì hai người đã bàn. Đại Sán soạn bản Lập quốc chính cước 18 điều, nói việc thương lính, yêu dân, thông thương, kỷ cương, pháp độ.
Chúa đọc xong, bảo Chưởng sự Nội quan khắc 18 điều ấy vào bảng treo trước phủ đường cho văn võ quân dân đều biết, rồi làm thêm 24 thẻ bài. Ai bị hại thì cầm thẻ đến thưa, và bất luận vương thân quốc thích hay quân dân đều cứ luật mà trị.
Một ông chúa hai mươi tuổi cho khắc lên bảng những điều mà một người khách vừa đến nửa năm viết ra.
Bảy năm sau, hai người Quảng Đông lên thuyền
Điều thứ nhất trong bốn điều là điều chúa không làm ngay. Đại Sán khuyên ông thông hảo với các quan Lưỡng Quảng rồi dâng biểu sang triều đình nhà Thanh xin phong, lấy thanh thế bên ấy làm chỗ dựa.
Chúa đáp rằng ông ở nơi góc biển xa xuôi, vốn chẳng am tường lễ giáo, mà nước nhỏ xưa nay chưa từng gửi cống lần nào; nay đường đột dâng biểu thì e các quan biên giới chẳng chịu đề đạt, chỉ mất công đi về. Ông xin Đại Sán về nước hãy nói giúp trước.
Tháng 5 năm 1702, chúa sai Hoàng Thần và Hưng Triệt đem quốc thư và phẩm vật sang Quảng Đông. Cả hai đều là người Quảng Đông từng theo Thạch Liêm sang yết kiến, nên chúa chọn họ. Phẩm vật kê đủ cân lạng: kỳ nam 5 cân 4 lạng, vàng sống 1 cân 13 lạng 5 đồng cân, hai chiếc ngà voi nặng 350 cân, mây song hoa 50 cây.
Phía bên kia trả lời rằng nước Quảng Nam hùng thị một phương, Chiêm Thành và Chân Lạp đều đã bị thôn tính, sau tất sẽ lớn; duy nước An Nam còn có nhà Lê ở đó nên chưa thể phong riêng được. Việc bèn thôi.
Ông không được cái danh vị đi xin. Cái tôn hiệu ông dùng suốt đời là cái quần thần dâng cho ông năm 1693, ở trong nước.
Ba con dấu dưới một bài tựa
Trước ngày rời Quảng Nam, Đại Sán đưa bản thảo tập ký sự của mình cho chúa xem và xin một bài tựa. Chúa viết, đề vào tháng năm âm lịch năm Bính Tý, tức năm 1696.
Cuối bài, ông ký là Đại Việt Quốc Vương Nguyễn Phúc Châu, đệ tử thọ Bồ Tát giới, pháp danh Hưng Long, rồi đóng 3 con dấu: Tào Động chính tông tam thập thế, Nguyễn Phúc Châu ấn, và Thiên Túng đạo nhân.
Bài tựa ấy in ở đầu Hải ngoại kỷ sự, sách khắc bên Trung Quốc. Bản nguyên san giữ ở Đông Dương Văn khố bên Nhật có đủ bài của ông. Bản của Quốc lập Trung ương Đồ thư quán thì không thấy văn tự của Nguyễn Phúc Châu đâu cả.
Chữ ông còn ở một chỗ nữa, mỏng hơn nhiều. Mấy bài thơ vịnh cảnh Thuận Quảng của ông được cho vẽ lên đồ sứ đặt làm bên Trung Quốc, cuối bài chỉ ký hai chữ Đạo nhân thư. Một trong số ấy là bài Tam Thai thính triều, nghe sóng ở núi Tam Thai thuộc Ngũ Hành Sơn, chỗ ông từng đi chơi với Đại Sán. Một bài khác vịnh mây xuân trên Ải Lĩnh, và sách Đại Nam nhất thống chí sau này khắc lại bốn câu đầu của chính bài ấy, chép tác giả là Hiển Tông.
Hai vật ông để lại ở Thiên Mụ
Năm 1710, nhân ngày Phật đản, chúa cho đúc một quả chuông lớn cúng chùa Thiên Mụ, gọi là Đại hồng chung. Chuông nặng 1.986 kg, cao 2,5 m, miệng rộng 1,4 m. Hoa văn trên thân mang biểu tượng của cả ba luồng tư tưởng Phật, Khổng và Lão, và người viết về nó đọc ra ở đó ước nguyện mưa thuận gió hòa, đất nước thái bình, nhân dân yên ổn.
Ảnh 2013 · Luk · CC BY-SA 4.0Năm 1714 ông cho đại trùng tu ngôi chùa. Năm sau, đứng trong khuôn viên nhìn ra sông Hương và núi Kim Phụng, ông viết bài văn Ngự kiến Thiên Mụ tự dài 1.250 chữ Hán, rồi cho khắc lên một tấm bia đá cẩm thạch xám cao 2,5 m, trán chạm rồng, diềm chạm rồng chầu hỏa châu, bia đặt trên lưng con rùa đá. Người sau xem tấm bia ấy là chỗ mở đầu cho lối tạo hình bi ký xứ Huế.
Ảnh 2015 · P. Hughes · CC BY 4.0Nhà chùa nay không còn gióng quả chuông ấy nữa. Tháng 12 năm 2013 nó được công nhận là bảo vật quốc gia; tấm bia cũng nằm trong danh sách ấy.
Câu ca người Huế vẫn hát nhắc đúng thứ ông để lại: tiếng chuông Thiên Mụ, canh gà Thọ Cương.
Cây cầu được ban tên
Mùa xuân năm 1719, chúa đi thăm dinh Quảng Nam. Sử chép ông duyệt binh mã trước, rồi mới xuống phố Hội An
THỜI ĐẠI · THƯƠNG CẢNGFaifo, thế kỷ thương cảngk. 1523 – 1778Mỗi năm một mùa gió, tàu Nhật, tàu Hoa và tàu Bồ vào một cửa sông ở Quảng Nam rồi ở lại bốn tháng. Chúa Nguyễn thu thuế theo nơi tàu đến, cao nhất là tàu Tây dương, tám nghìn quan một chuyến vào cửa..
Ở phía tây phố có một cây cầu có mái
ĐỊA ĐIỂM · PHỐ CỔChùa CầuNgười Nhật bỏ vốn, thợ Việt dựng, làng người Hoa giữ, một vị chúa cho ba chữ. Qua tám lần hạ giải, chỗ còn gần như nguyên vẹn của cây cầu bốn trăm tuổi là cái móng., chỗ thuyền buôn tụ họp. Chúa đặt tên cầu là Lai Viễn, nghĩa là khách phương xa tới, rồi viết chữ lên biển vàng ban cho. Tấm biển ấy đến nay vẫn treo trên lối qua cầu.
Ảnh 2007 · Viethavvh · phạm vi công cộngBa chữ ban cho một cây cầu là cách rẻ nhất mà một người cầm quyền có thể nói với thương nhân các nước rằng cửa vẫn mở.
Ông mất năm 1725, sau ba mươi tư năm cầm quyền. Nhà Nguyễn về sau truy tôn ông là Hiển Tông.
- Hải ngoại kỷ sự — khảo cứu kèm trích nguyên văn bản dịch Viện Đại học Huế 1963
- Thiền sư Thích Đại Sán và tác phẩm Hải ngoại kỷ sự
- 《海外紀事》— Hải ngoại kỷ sự, quyển 1 (và các quyển liền kề), bản 識典古籍 CADAL02087136
- “Đại Việt dưới thời Lê Hy Tông (1676–1704)” — biên niên dịch và chú, chép nguyên văn Đại Nam thực lục về chuyến cầu phong năm 1702 và lời phúc đáp của nhà Thanh
- “Quốc chúa Nguyễn Phúc Chu và những bài thơ vịnh cảnh sắc vùng Thuận – Quảng trên đồ sứ ký kiểu”
- “Chúa Nguyễn Phúc Chu và hai bảo vật quốc gia chùa Thiên Mụ” — Tạp chí Nghiên cứu Phật học
- “Chúa Nguyễn Phúc Chu với việc đặt tên cầu Lai Viễn ở Hội An” — chép nguyên văn Đại Nam thực lục tiền biên quyển 8 tờ 28 về chuyến kinh lý năm 1719
- “Chúa Nguyễn Phúc Chu (1675–1725) Minh Vương” — Tu viện Quảng Đức
- “Nguyễn Phúc Chu” — Wikipedia tiếng Việt
- 「大汕」 — Wikipedia tiếng Trung; Thạch Liêm 1633–1704, Tào Động đời 29, chuyến đi sứ năm 1702
- 「海外纪事」 — Wikipedia tiếng Trung; sáu quyển, soạn 1696, in 1699
- Ảnh bia “Ngự Kiến Thiên Mụ Tự” và Đại hồng chung chùa Thiên Mụ trên Wikimedia Commons
- “Một số thông tin về Hội An, Quảng Nam qua ghi chép của Quốc sử quán triều Nguyễn trong Đại Nam thực lục”
- Mục lục tổng BAVH — bảng tra bài theo đề tài, gồm mọi bài về Faifo, quan Cai Bộ và thủ tục hải quan, phái bộ Công ty Đông Ấn Anh 1695–1696, mộ người Hà Lan ở Faifo
- Hội An - trung tâm giao thương khu vực và quốc tế
