Ông vào trấn một chỗ không ai muốn nhận
Năm 1558, Nguyễn Hoàng
THỜI ĐẠI · THƯƠNG CẢNGFaifo, thế kỷ thương cảngk. 1523 – 1778Mỗi năm một mùa gió, tàu Nhật, tàu Hoa và tàu Bồ vào một cửa sông ở Quảng Nam rồi ở lại bốn tháng. Chúa Nguyễn thu thuế theo nơi tàu đến, cao nhất là tàu Tây dương, tám nghìn quan một chuyến vào cửa. xin vào trấn Thuận Hóa. Đất ấy nằm ngoài tầm với của triều đình phương bắc, và cũng ngoài tầm nuôi của bất cứ vựa lúa nào. Nhận nó là nhận một chỗ phải tự kiếm ăn.
Trên danh nghĩa, ông và những người nối nghiệp vẫn là quan của triều Lê. Họ vẫn dùng niên hiệu vua Lê và vẫn nhận mình là bề tôi, dù trên thực tế họ cai quản riêng.
Bản đồ trong ấn bản Lyon 1651 của “Histoire du royaume de Tunquin” · phạm vi công cộngTrong hơn hai trăm năm, chín đời chúa nối nhau ở đó. Thủ phủ dời mấy lần: Ái Tử và Trà Bát, rồi Phước Yên và Bác Vọng, rồi Kim Long và Phú Xuân. Mỗi lần dời là một lần bộ máy tự sắp lại chỗ đứng của mình so với biển và so với quân Trịnh ngoài kia.
Cái làm bộ máy ấy khác đi nằm ở chỗ nó lấy tiền ở đâu. Đất không đủ, người không đông, nên thứ còn lại là biển.
Ba cái ty và một quê quán
Đến đời chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên, họ Nguyễn thôi nộp thuế cho Lê – Trịnh và đem quân chống giữ ở phía bắc. Từ đó việc bổ nhiệm quan lại do chúa tự đặt, không chờ lệnh ngoài kia nữa.
Ở Chính dinh, chúa đặt 3 ty. Xá ty coi việc từ tụng và văn án, đứng đầu là Đô tri và Ký lục. Tướng thần lại ty coi việc thu thuế và phát lương cho quân, đứng đầu là Cai bạ. Lệnh sứ ty coi việc tế tự, lễ tết và phát lương cho lính ở Chính dinh.
Có một luật bất thành văn về người. Những chức quan trọng từ cấp dinh trở xuống chỉ tuyển người trong họ hàng có bản quán ở Thanh Hóa, tức là người cùng quê với chúa. Người nơi khác không được làm.
Dưới mỗi ty có Cai hợp, Thủ hợp và các lại ty làm việc giấy tờ. Dưới dinh là phủ và huyện, có Tri phủ, Tri huyện, Đề lại, Thông lại, Huấn đạo, Lễ sinh. Đến đời chúa Thượng Nguyễn Phúc Lan thì đặt thêm Nội tả, Ngoại tả, Nội hữu, Ngoại hữu, gọi là tứ trụ triều đình.
Một bộ máy mở với thuyền buôn bốn phương, mà khép với chính dân xứ mình.
Đội Hoàng Sa và cuốn sổ của viên cai đội
Ngoài khơi phủ Quảng Nghĩa có hơn một trăm ba mươi hòn đảo, trong đó có bãi Cát Vàng dài hơn 30 dặm, nước trong nhìn thấu đáy. Lê Quý Đôn chép rằng bên bãi cát có vô số tổ chim yến, ốc tai voi to như cái chiếu, hải sâm, đồi mồi, và đồ vật của những con tàu bị đắm trôi dạt vào.
Họ Nguyễn đặt đội Hoàng Sa 70 suất, lấy người xã Vĩnh An sung vào, thay phiên nhau. Mỗi năm cứ tháng ba nhận giấy hành sai, mang lương 6 tháng, đem 5 chiếc thuyền câu nhỏ ra khơi, đi ba ngày ba đêm mới tới nơi.
Đến tháng tám là kỳ hẹn về. Thuyền vào cửa Eo, lên thành Phú Xuân nộp. Nhà nước khám nghiệm, cân, định hạng, rồi mới cho bán riêng mấy thứ như hải sâm, đồi mồi và cấp giấy cho về.
Cuốn sổ của một viên cựu cai đội còn chép được từng năm. Năm Giáp Ngọ nhặt được bạc 30 hốt. Năm Giáp Thân được thiếc 5.100 cân. Năm Ất Dậu được bạc 126 hốt. Có năm chẳng được gì.
Cùng cơ quan ấy còn quản đội Bắc Hải, lấy người tình nguyện ở Bình Thuận và Cảnh Dương, miễn tiền sưu và thuế tuần, cho đem thuyền câu riêng ra Côn Lôn và vùng biển Hà Tiên tìm hải vật.
Cùng cuốn sổ ấy còn chép một chuyện năm 1754. Mười quân nhân của một đội ở phủ Quảng Nghĩa ra tìm hải vật, tám người lên bờ, hai người giữ thuyền, thì gặp bão đứt dây neo. Thuyền dạt sang cảng Thanh Lan bên Hải Nam. Quan sở tại xét thực rồi cho người dẫn họ về tận quê, và bên này có thư trả lời do quan Cai bạ Thuận Hóa viết. Một chuyến đi lệch đường để lại đúng thứ mà sử sau này cần: giấy tờ hai bên.
Bốn lạng bốn tiền cho bốn tháng
Không phải nguồn thu nào cũng chạy. Ở nguồn Phù Âu thuộc huyện Phú Vang có chỗ tìm vàng, dân đến đó được miễn thuế và được phát tiền cùng đồ ăn để đi tìm.
Mùa xuân năm Bính Thân, quan Kiêm đốc xuất là Đoan quận công cho Cơ Trung hầu vào khai mỏ ấy. Ông ta chiêu tập người của đội Hoàng Sa và thuê thêm 65 người đào đất lấy vàng về nấu.
Trong khoảng 4 tháng, tất cả thu được 4 lạng 4 tiền vàng. Không đủ trả tiền công, nên thôi, không khai nữa.
Cùng mạch ấy, sổ của Lê Quý Đôn còn kê giá từng chức trông coi các nguồn: cai quan ở mấy nguồn lớn nộp 4 quan 5 mạch, cai quan các nguồn khác 2 quan, giang quan 1 quan 6 mạch, tuần ty cũng 1 quan 6 mạch. Bộ máy ấy đếm tiền tới từng mạch.
Sổ sách của một chính quyền ghi cả những chỗ nó thua.
Ba khẩu ở mũi, hai khẩu ở đuôi
Đàng Trong ít người hơn Đàng Ngoài, nên phải bù bằng thứ khác. Quân số thường được ước chừng 30.000 người, và chính người ước cũng nói con số ấy không ổn định: có chiến thì tăng, hòa thì giảm.
Thủy binh là chỗ mạnh. Mỗi thuyền chiến chừng 30 tay chèo, 3 khẩu đại bác ở mũi và 2 khẩu ở đuôi.
Ngoại phiên thư hàn, Kondō Jūzō soạn, hoàn thành 1818 · Lưu trữ Quốc gia Nhật Bản · phạm vi công cộngSúng thì mua của người phương Tây, rồi học đúc lấy. Năm 1631 chúa Sãi cho mở trường bắn, trường tập voi tập ngựa, và một sở đúc súng đại bác ở Thuận Hóa, do một người lai Bồ Đào Nha tên Jean de la Croix dựng giúp. Chỗ ấy nay còn cái tên: phường Đúc.
Tiền của thương nhân đi vào cửa biển, rồi ra khỏi kho dưới dạng thuốc súng và đồng.
Đổi tên gọi, không đổi cách sống
Năm 1744, Nguyễn Phúc Khoát chính thức xưng vương. Đến đội quân hộ vệ của chúa cũng đổi tên, gọi là Vũ lâm quân.
Danh xưng đổi, nhưng cái nuôi bộ máy thì không. Nó vẫn là thuế đánh vào thuyền buôn ghé cửa Hội An
THỜI ĐẠI · THƯƠNG CẢNGFaifo, thế kỷ thương cảngk. 1523 – 1778Mỗi năm một mùa gió, tàu Nhật, tàu Hoa và tàu Bồ vào một cửa sông ở Quảng Nam rồi ở lại bốn tháng. Chúa Nguyễn thu thuế theo nơi tàu đến, cao nhất là tàu Tây dương, tám nghìn quan một chuyến vào cửa., cộng với thuế tuần ở các nguồn, thuế đinh, thuế ruộng, và những chuyến ra biển mỗi năm một lần.
Bốn mươi năm trước đó, một ông chúa
CON NGƯỜI · CHÚA NGUYỄNNguyễn Phúc Chu1675 – 1725 · Trị vì 1691 – 1725Ông cầm quyền Đàng Trong ba mươi tư năm, mời một nhà sư Trung Hoa sang ở nửa năm rồi cho khắc lời khuyên của người ấy lên bảng treo trước phủ, đi xin một danh vị mà không được, và để lại chữ mình ký trên một quả chuông, một tấm bia, một bài tựa sách và ba chữ trên cây cầu ở Hội An. đã sang tận Quảng Đông xin một danh vị và không được. Đời sau tự xưng lấy ở trong nước.
Quân Trịnh vào Phú Xuân
Cuối đời chúa, quyền hành rơi vào tay một người: Trương Phúc Loan. Sử chép đó là nạn quyền thần, và nó tới đúng lúc cửa sông bồi dần, thuyền lớn khó vào, nguồn thu cảng mỏng đi.
Đầu năm 1775 quân Trịnh vào Phú Xuân. Chúa chạy vào Quảng Nam. Tháng tư quân Trịnh vượt đèo Hải Vân rồi đụng quân Tây Sơn ở Cẩm Sa. Phố cảng
THỜI ĐẠI · THƯƠNG CẢNGFaifo, thế kỷ thương cảngk. 1523 – 1778Mỗi năm một mùa gió, tàu Nhật, tàu Hoa và tàu Bồ vào một cửa sông ở Quảng Nam rồi ở lại bốn tháng. Chúa Nguyễn thu thuế theo nơi tàu đến, cao nhất là tàu Tây dương, tám nghìn quan một chuyến vào cửa. nằm đúng giữa hai gọng.
Hải đồ khoảng 1779 · phạm vi công cộngThủ phủ của chúa dời về Hội An trong hai năm cuối cùng, rồi vào Gia Định.
Một chính quyền dựng lên bằng tiền cảng, và mất chỗ đứng khi cảng không còn nuôi nổi nó.
Cái gì của thời ấy còn trong phố
Bộ máy chấm dứt năm 1777. Cái nó để lại không mang tên nó.
Tấm biển ba chữ
ĐỊA ĐIỂM · PHỐ CỔChùa CầuNgười Nhật bỏ vốn, thợ Việt dựng, làng người Hoa giữ, một vị chúa cho ba chữ. Qua tám lần hạ giải, chỗ còn gần như nguyên vẹn của cây cầu bốn trăm tuổi là cái móng. trên cây cầu là chữ một ông chúa viết. Cái làng của người Hoa
ĐỊA ĐIỂM · KHU PHỐKhu phố người HoaThế kỷ XVI · đến nayNgười Hoa tới Hội An theo gió mùa và định về theo gió mùa, nên người trong phố gọi họ là người Tàu, nghĩa là người đi thuyền tới. Rồi một số ở lại, và nhà nước phải nghĩ ra một thân phận cho họ. trong phố là một thiết chế do chúa nghĩ ra để xếp chỗ cho người ở lại. Ba ngôi mộ Nhật
CON NGƯỜI · CỘNG ĐỒNGThương nhân Nhật Bản1602 – 1647 · và đến nayCộng đồng người Nhật ở Hội An có ngày mở và có ngày đóng, chuyện hiếm trong kho này. Mạc phủ cấp giấy cho họ đi từ năm 1602 và gọi họ về năm 1635. Mấy người không lên tàu, và mộ của họ vẫn còn trên đất Hội An, do người Việt trông coi. ngoài rìa phố là của những người được chúa cho phép dựng phố riêng.
Và trong Phủ biên tạp lục, cuốn sổ mà Lê Quý Đôn chép lại khi vào tiếp quản, còn nguyên tên những người đi ra biển mỗi tháng ba và về mỗi tháng tám.
- Phủ biên tạp lục — trọn 6 quyển, bản dịch Ngô Lập Chí, Khoa Xã hội, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, 1959
- Đại Nam thực lục (bản dịch Nxb Giáo dục) và Đại Nam nhất thống chí (Nxb Thuận Hóa 2006)
- Đại Nam thực lục — bộ mộc bản, giới thiệu của Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV
- 《東西洋考》quyển 1 — Tây dương liệt quốc khảo, phần Giao Chỉ. Địa chí thương mại đời Minh; bản thô chép 交阯 33 lần, 廣南 9 lần, 順化 8 lần
- “Relation de la nouvelle mission des peres de la Compagnie de Iesus au royaume de la Cochinchine” — bản dịch Pháp văn 1631, 238 trang, quét từ Thư viện Trung ương Quốc gia Roma. Toàn văn 48.197 chữ; Faifo 38 lần, Turon 20, Pulucambi 12, Cacciam 5
- Miscellaneous Factory Records IOR/G/40/18 (1695–1697) — hồ sơ Công ty Đông Ấn Anh về Đàng Trong, British Library
- “Silk for Silver: Dutch-Vietnamese Relations, 1637–1700” — luận án Đại học Leiden, dựng trên hồ sơ VOC chưa ai dùng
- Điểm sách “Les marchands européens en Cochinchine et au Tonkin (1660–1715)” của Ch. B. Maybon — BEFEO t.16
- “日本とベトナム — きざまれた交流の軌跡をたどる” chương 2, mậu dịch châu ấn thuyền. Trưng bản gốc thư Nguyễn Hoàng gửi Tokugawa Ieyasu năm Hoằng Định 7 (1604) trong 外蕃書翰; hơn 350 chuyến châu ấn thuyền 1604–1639, trong đó 130 chuyến tới vùng Việt Nam; thư từ hai bên 1601–1632 gồm 15 thư từ Mạc phủ và 19 thư từ An Nam; tranh 自長崎到安南国船図 vẽ thuyền Araki Sōtarō treo cờ VOC lộn ngược; Araki cưới con gái chúa Nguyễn — “Anio-san” ở Nagasaki; Đại Nam thực lục tiền biên q.2 tr.4 chép năm 1617 mua đồng đỏ của thuyền buôn Nhật; tiền Bắc Tống 元豐通寶·元祐通寶 khai quật ở Hội An
- 外蕃書翰 — bản đồ giải của 外蕃通書
- 外蕃通書 — kotobank
- “Đại Việt dưới thời Lê Hy Tông (1676–1704)” — biên niên dịch và chú, chép nguyên văn Đại Nam thực lục về chuyến cầu phong năm 1702 và lời phúc đáp của nhà Thanh
- “Chúa Nguyễn” — Wikipedia tiếng Việt
- Sản vật - thổ sản ở Hội An, Quảng Nam và các quy định về buôn bán được ghi chép trong tác phẩm Phủ biên tạp lục
- Thiền sư Thích Đại Sán và tác phẩm Hải ngoại kỷ sự
