Một đoạn tranh cuốn Nhật Bản thế kỷ 17: dòng sông lượn qua đồng và núi, một chiếc thuyền buôn kéo lên bờ, và một ngôi nhà mở nơi vải vóc cùng chum hàng được bày ra để xem.
THỜI ĐẠI · THƯƠNG CẢNG

Faifo, thế kỷ thương cảng

k. 1523 – 1778 · Faifo · Hoài Phố · 會安

Mỗi năm một mùa gió, tàu Nhật, tàu Hoa và tàu Bồ vào một cửa sông ở Quảng Nam rồi ở lại bốn tháng. Chúa Nguyễn thu thuế theo nơi tàu đến, cao nhất là tàu Tây dương, tám nghìn quan một chuyến vào cửa.

TRƯỚC KHI CÓ FAIFOThế kỷ IX – XV

Bến trước khi có phố

Từ trước khi khu phố có tên, bờ biển này đã nằm trong luồng buôn. Dưới cồn cát quanh phố còn những khu mộ chum của văn hoá Sa Huỳnh, niên đại quanh hai nghìn năm, đào được ở Hậu Xá, An Bang, Thanh Chiếm và Xuân Lâm. Thời Chăm Pa, quãng thế kỷ IX và X, ở cửa sông đã có một thương cảng mà sách gọi là Lâm Ấp Phố, thuyền Ả Rập, Ba Tư và Trung Hoa đều ghé. Thứ FaifoTÊN THƯƠNG NHÂN GỌI HỘI ANFaifoCái tên thương nhân nước ngoài ghi trong sổ sách để gọi Hội An, thường được giải thích là từ Hoài Phố (có nơi chép Hải Phố). Đó là tên một chỗ ghé buôn, không phải tên một nhượng địa: cái phố nằm dưới quyền các chúa Nguyễn, và thương nhân ở đó là nhờ chúa cho phép.“Hội An” — Wikipedia tiếng Việt thừa hưởng về sau không phải một bãi bờ trống. Nó thừa hưởng một địa chỉ đã có tiếng trên đường biển, và một dòng sông sẵn đưa hàng từ trên nguồn xuống là sông Thu BồnĐỊA ĐIỂM · SÔNGSông Thu BồnTừ khi có đồng bằng · đến nayMỗi năm sông Thu Bồn đổ ra biển khoảng 20 km³ nước, nhiều hơn mọi con sông miền Trung, và 80 đến 90% lượng ấy dồn vào bốn tháng cuối năm. Phố cổ Hội An đứng trên một cồn cát do chính con sông này bồi nên..

Mộ chum Hậu Xá II, đào tháng 5 năm 1994 ở phường Thanh Hà

Bằng chứng chắc nhất của luồng hàng ấy lại nằm dưới nước. Cách đảo Cù Lao Chàm chừng hai mươi cây số về phía đông, một con tàu chìm hồi thế kỷ XV, khoang chở phần lớn là gốm Việt, nhiều nhất là gốm từ lò Chu Đậu ở châu thổ sông Hồng. Sáu đợt khảo sát và khai quật từ 1997 đến 1999 kéo nó lên từ độ sâu bảy mươi mét. Viện Lâm nghiệp phân tích mẫu gỗ và cho biết đó là gỗ tếch, thứ gỗ chuyên dùng đóng tàu. Thân tàu dài 29,4 mét, chỗ rộng nhất 7,2 mét, lòng chia mười chín khoang. Không kể mảnh vỡ, đợt khai quật thu về hơn 240.000 hiện vật không vỡ hoặc chỉ vỡ ít, cùng hàng chục vạn mảnh gốm. Một trăm năm trước khi có phố Nhật, bờ này đã là chỗ hàng đi ra.

Ấm hình phượng từ con tàu đắm Cù Lao Chàm, thế kỷ XV
NGƯỜI ÂU ĐẦU TIÊN1516 – 1540

Chữ khắc vào đá Cù Lao Chàm

Người Âu tới vùng biển này trước khi có phố cảng. Năm 1516, viên toàn quyền Bồ Đào Nha ở Ấn Độ phái một hạm đội rời Goa, ghé Malacca rồi vào vịnh ngoài khơi xứ này, gặp gió ngược nên chỉ ở lại vài ngày. Bảy năm sau, nhà hàng hải Duarte Coelho Pereira cho thuyền qua cửa Hàn và lên Cù Lao Chàm. Khảo cứu Bồ chép rằng ông khắc vào đá ở đảo một cây thánh giá, chữ INRI, tên COELHO và năm 1523.

Cù Lao Chàm nhìn từ bờ — dấu đất liền đầu tiên tàu biển trông thấy

Sau chuyến ấy người Bồ không vội. Năm 1540 một thuyền buôn từ Patani do António de Faria chỉ huy ghé lần thứ ba, trên thuyền có Fernão Mendes Pinto, người về sau chép lại chuyến đi ấy trong sách của mình. Suốt phần còn lại của thế kỷ XVI, chỗ này với người Bồ vẫn chỉ là nơi lấy nước ngọt và củi trên đường từ Goa sang Macao. Người đến sớm nhất không phải người mở ra phố cảng.

VIỆC CỦA MỘT VỊ CHÚA1558 – 1600

Vị chúa cần thuyền

Năm 1558, Nguyễn HoàngTHỜI ĐẠI · ĐÀNG TRONGThời các chúa Nguyễn1558 – 1777Chín đời chúa cai quản Đàng Trong hơn hai trăm năm bằng một bộ máy sống nhờ biển: thuế đánh vào thuyền buôn ghé cảng, và mỗi năm bảy mươi suất lính đi thuyền câu ra khơi ba ngày ba đêm nhặt hải vật đem về nộp. Khi cảng không nuôi nổi nữa, bộ máy ấy đổ trong ba năm. vào trấn Thuận Hóa. Ông cầm một vùng đất hẹp, lưng dựa núi, mặt quay ra biển, không có đồng bằng nào đủ nuôi một cuộc chiến lâu dài với họ Trịnh ngoài Bắc. Thứ ông có là bờ biển và cửa sông. Đến khoảng 1570 ông giữ luôn cả Quảng Nam. Các khảo cứu về Đàng Trong đều đọc việc mở cửa cho tàu buôn theo cùng một cách: không chỉ là chuyện làm ăn mà là chuyện giữ đất.

Làng ở cửa sông ấy đã có tên trước khi có chúa. Ô châu cận lục, sách địa chí xứ Thuận Quảng của Dương Văn An, đã chép một làng tên Hoài Phố. Đó là làng người Việt, và người Nhật đến ở trong làng ấy chứ không dựng riêng một khu ngoại kiều trên đất trống. Cái tên mà người Âu sẽ đọc trẹo đi thành Faifo bắt đầu từ hai chữ nôm na ấy.

THƯ QUA BIỂN1601 – 1635

Dấu son trên tờ giấy phép

Ở Nhật đầu thế kỷ XVII, muốn cho thuyền ra nước ngoài phải có tờ giấy đóng dấu son của Mạc phủ, gọi là châu ấn trạng. Thư từ đi lại giữa Mạc phủ và các nước được một viên quan tên Kondō Morishige chép thành bộ Ngoại phiên thông thư, gom văn thư từ năm 1599 đến năm 1764. Trong bộ ấy có bốn quyển dành riêng cho An Nam.

Chưa có trong kho
Cần hiện vật · lá thư năm 1604

Trong khoảng 1601 đến 1632, Mạc phủ gửi sang An Nam 15 lá thư và nhận về 19 lá. Lưu trữ Quốc gia Nhật chép rằng chừng ấy đủ để An Nam thành một trong những nơi Mạc phủ thư từ nhiều nhất ở châu Á. Trong tập đồ giải kèm theo còn bản chép lại nguyên vẹn một tờ phụng thư năm 1604 của Nguyễn HoàngTÊN QUẬN THỜI HÁNGiao Chỉ · 交趾“Giao Chỉ” là tên quận do nhà Hán đặt cho vùng đất Việt từ thế kỷ 2 TCN, sau lan rộng thành tên gọi Trung Quốc và Nhật Bản dùng chỉ cả nước Việt — và chính cách phát âm này là gốc của từ “Cochinchina” mà phương Tây dùng gọi Đàng Trong, vùng đất có thương cảng Hội An sầm uất thế kỷ 16–18. gửi Tokugawa Ieyasu, đề tên ông theo lối văn thư: An Nam quốc Đại đô thống Thụy Quốc công.

Sử gia Nhật Iwao Seiichi đếm được 355 tờ châu ấn trạng cấp ra trong ba mươi mốt năm, từ 1604 đến 1635. Trong số ấy 280 tờ đi các bến Đông Nam Á, và 85 tờ vào Đàng Trong, nhiều hơn hẳn số thuyền đi Đàng Ngoài, đi Xiêm hay đi Lã Tống. Một khảo cứu Việt khác cũng dẫn chính Iwao lại chép 331 chuyến và 86 chuyến vào Hội An. Kho này ghi cả hai con số, vì chưa mở được nguyên bản của Iwao để phân xử.

NGƯỜI ÂU GHI CHÉP1618 – 1622

Bốn tháng một năm

Năm 1618, một giáo sĩ Dòng Tên người Ý tên Cristoforo Borri tới Đàng Trong và ở lại bốn năm. Ông chép rằng mỗi năm thương nhân Hoa và Nhật họp một hội chợ ở một trong các cảng của xứ này, và hội chợ ấy kéo dài chừng bốn tháng. Người Hoa chở tới bốn, năm triệu bạc trên thuyền mành. Người Nhật chở tơ lụa mịn trên thứ thuyền mà Borri gọi là somme. Chúa thu được một khoản lớn ở đó bằng thuế và các thứ lệ.

Cả một chuyến buôn vẽ trên một tấm giấy: sông, bến, nhà quan, hàng bày ra

Tiền tiêu trong xứ đúc bằng đồng thau, tròn, đục lỗ giữa để xâu lại, năm trăm đồng ăn một écu. Người trong xứ mua bất cứ thứ gì mới và đến từ xa, từ cái lược, cây kim khâu cho tới vòng tay và hoa tai bằng thủy tinh. Borri kể chuyện một người Bồ mang từ Macao sang một hộp kim khâu mua chưa tới ba mươi ducat, bán ở Đàng Trong mỗi cây một real, lãi hơn một nghìn. Thứ họ chuộng nhất, ông viết, là san hô.

MỘT ĐÁM CƯỚI1619

Cô dâu ở Nagasaki

Araki Sotaro là người xứ Higo, tới Nagasaki lập nghiệp năm 1588 rồi tự mình xuống thuyền đi buôn. Giấy phép của ông còn ghi rõ từng chuyến: năm 1606 đi Xiêm, năm 1610 đi Giao Chỉ, rồi từ 1619 đến 1632 thêm nhiều chuyến nữa cũng vào Giao Chỉ. Cờ trên thuyền ông là ba chữ V, O, C của Công ty Đông Ấn Hà Lan lồng vào nhau rồi dựng ngược đầu. Lưu trữ Quốc gia Nhật chép rằng người ta nói ông treo lá cờ ấy để tàu Hà Lan trên đường khỏi cản.

“Tự Trường Kỳ đáo An Nam quốc thuyền đồ” — thuyền của Araki Sotaro, lá cờ mang chữ lồng của Công ty Hà Lan dựng ngược

Năm 1619 ông cưới một người con gái họ Nguyễn rồi đưa về Nagasaki. Dân trong phố gọi bà là Anio, tên Nhật chép bằng bốn chữ 王加久戸売. Sáu bộ từ điển bách khoa Nhật đều chép bà là con gái nhà ngoại thích họ Nguyễn chứ không phải con gái chúa, dù chuyện đến nay vẫn thường được kể như chuyện một công nữ. Hai người nằm chung trong khu mộ dòng họ Araki ở chùa Daionji, và đám rước dâu của bà vẫn được diễn lại trong hội Kunchi ở Nagasaki, trên một chiếc thuyền châu ấn.

Thuyền vượt biển của Araki Sotaro. Cờ sau lái mang dấu hiệu mà các từ điển Nhật chép là dấu VOC lộn ngược
SÁCH IN Ở ROMA1631

Một phố mà là hai phố

Năm 1631 bản tường trình của Borri in ở Roma. Trong đó có một câu mà về sau khảo cứu nào về phố cảng này cũng dẫn lại. Vua xứ này, Borri viết, xưa có cho người Nhật và người Hoa chọn một chỗ tiện để dựng phố. Phố ấy tên là Faifo, và nó lớn đến mức nói có hai phố cũng được, một của người Hoa và một của người Nhật. Mỗi bên giữ khu riêng, có người đứng đầu riêng, sống theo lệ nước mình.

“Nihonmachi” — phố Nhật, qua nét vẽ của một hoạ sĩ Nhật

Borri cũng chép cách vào cảng. Có hai cửa biển, một gọi là Pulluciambello, một gọi là Turon, cách nhau ba bốn dặm. Nước từ hai cửa ăn vào bảy tám dặm rồi mới gặp nhau thành một dòng lớn, nên tàu vào lối nào cũng tới được bến. Ông đếm hơn sáu mươi chỗ đậu được trên hơn trăm dặm bờ. Cùng sách ấy chép người Bồ ở Macao cử một viên thuyền trưởng tên Ferdinand de Costa sang xin chúa cấm cửa người Hà Lan. Ông ta xin được, và lệnh cấm ghi rõ ai trái thì mất mạng.

Một chiếc thuyền buôn Nhật đậu ngoài Faifo
NHẬT BẢN ĐÓNG CỬA1633 – 1679

Năm nước Nhật thôi ra khơi

Từ năm 1633 Mạc phủ bắt đầu hạn chế thuyền ra nước ngoài. Đến 1635 chế độ châu ấn trạng chấm dứt, và năm 1639 loạt lệnh tỏa quốc khép lại. Người Nhật đang ở Faifo không được về, người ở Nhật không được sang. Các phố Nhật khắp Đông Nam Á tàn dần, và phố Nhật ở đây tàn theo.

Hội quán Phúc Kiến — do người Minh Hương dựng, con cháu người Việt gốc Hoa còn giữ

Chỗ trống ấy người Hoa lấp vào. Năm 1644, nhà Thanh thay nhà Minh, nhiều người theo nhà Minh chạy xuống phương Nam, và chúa Nguyễn nhận họ rồi cấp đất cho lập làng riêng. Charles Wheeler chép rằng chúa chính thức lập xã Minh HươngĐỊA ĐIỂM · KHU PHỐKhu phố người HoaThế kỷ XVI · đến nayNgười Hoa tới Hội An theo gió mùa và định về theo gió mùa, nên người trong phố gọi họ là người Tàu, nghĩa là người đi thuyền tới. Rồi một số ở lại, và nhà nước phải nghĩ ra một thân phận cho họ. năm 1679. Đến cuối thế kỷ XVII, người đứng ra trình báo tàu bè ở cảng là người Minh Hương, không còn là người Nhật nữa.

TÊN KHẮC VÀO VÁCH1640

Năm mươi bảy cái tên

Năm Canh Thìn 1640, thiền sư Huệ Đạo Minh cho khắc thẳng vào vách động Hoa Nghiêm ở Ngũ Hành Sơn một tấm bia, đặt tên là Phổ Đà Sơn linh trung Phật. Mặt bia hình chữ nhật, cao 96 phân, rộng 59 phân, trán khum, hai bên viền dây leo, cả thảy 23 dòng chữ. Nội dung là việc dựng cảnh chùa, và kèm theo là danh sách người bỏ tiền bỏ đồng ra cúng.

Chưa có trong kho
Cần hiện vật · bia Phổ Đà Sơn linh trung Phật, 1640

Danh sách ấy đếm được 57 người và gia đình, trong đó 41 Việt, 13 Nhật và 3 Hoa. Người Nhật khai địa chỉ là Nhật Bản dinh hoặc Tùng Bản dinh, tức là đã ở hẳn. Ba khách thương khai Nhật Bản quốc, và người đọc bia hiểu chữ ấy là họ chỉ lui tới theo mùa bằng thuyền chứ không cư trú. Thứ ba người này cúng là 570 cân đồng. Ba người Hoa đều khai quê là Đại Minh quốc, chưa có một địa chỉ nào ở phố mang tên họ.

Chỗ đáng nhìn nhất trên bia là tên các bà vợ đứng cạnh tên chồng. Đỗ Thị Mặn. Nguyễn Thị Nụ. Phạm Thị Nước. Nguyễn Thị Nở. Tên Nôm cả, tức là đàn bà Việt, lấy chồng Nhật, và cùng chồng đứng tên cúng vào một tấm bia. Phố Nhật ở Faifo không phải một trại trọ đàn ông.

CHỮ VÀO TỪ ĐIỂN1651 – 1653

Faifo, chép từ tiếng người trong phố

Năm 1651, ở Roma, Alexandre de Rhodes in cuốn từ điển Việt – Bồ – La. Ở vần H có mục Hoăi Phố, chú đúng một dòng: một làng trong xứ Cô Sinh mà người Nhật ở và gọi là Faifo. Một dòng ấy đóng lại cả một chuỗi suy đoán về gốc gác cái tên. Faifo không phải tên ai đặt cho phố, nó là tiếng người trong phố nói, chép lại bằng chữ của người Âu.

Đất nước qua nét vẽ châu Âu: Alexandre de Rhodes, 1651

Hai năm sau, trong sách Hành trình và Truyền giáo in ở Paris, chính de Rhodes kể lại chuyến trở lại Đàng Trong năm 1640. Ông đang bị chúa trục xuất nên không dám ra mặt, phải ẩn ở nơi mà nguyên văn tiếng Pháp gọi là bourg nommé Faifo. Người dẫn ông đi gặp chúa là viên bang trưởng người Nhật của khu phố. Bản dịch của Hồng Nhuệ đổi chỗ ấy thành một tỉnh gọi là Hội An, và làm mất cả hai điều nguyên văn nói, rằng đó là một khu phố và rằng người cầm đầu khu phố là người Nhật.

HAI NGƯỜI KHÁCH MỘT NĂM1695 – 1696

Con đường ba bốn dặm

Năm 1695 có hai người khách cùng tới Đàng Trong và cùng chép lại. Người thứ nhất là thiền sư Thích Đại Sán, từ Quảng Đông sang theo lời mời của chúa Nguyễn Phúc ChuCON NGƯỜI · CHÚA NGUYỄNNguyễn Phúc Chu1675 – 1725 · Trị vì 1691 – 1725Ông cầm quyền Đàng Trong ba mươi tư năm, mời một nhà sư Trung Hoa sang ở nửa năm rồi cho khắc lời khuyên của người ấy lên bảng treo trước phủ, đi xin một danh vị mà không được, và để lại chữ mình ký trên một quả chuông, một tấm bia, một bài tựa sách và ba chữ trên cây cầu ở Hội An.. Hội An, ông chép, là nơi bến tàu tập họp hàng hóa ngoại quốcNGUYÊN VĂN BẢN DỊCHHội An la nơi bến tàu tập họp hàng hóa ngoại quốcThích Đại Sán, Hải ngoại kỷ sự, 1695 — bản dịch Viện Đại học Huế, 1963. Một con đường lớn chạy thẳng bờ sông dài chừng ba bốn dặm, hai bên nhà cửa khít nịt liền nhau. Cuối đường là Nhật Bản kiều và Cẩm Phô, còn bên sông là Trà Nhiêu, nơi các thương thuyền ngoại quốc đình bạc.

Thương nhân Nhật vào trình diện ở dinh trấn Quảng Nam

Người thứ hai là Thomas Bowyear, do Công ty Đông Ấn Anh phái từ Fort St George sang xin lập thương điếm. Nhật ký của ông chép ngày 20 tháng 8 năm 1695: tàu treo cờ mời dân chài lên, thấy nhiều thuyền mà không ai dám lại gần, chiều phải cho viên quản lý lên đảo nhắn tin. Sáng hôm sau, hai chiếc thuyền chở người của ông cùng 2 viên chức nhỏ của đảo ra tới, kèm 10 chiếc nữa toàn thuyền chài, để kéo tàu vào. Charles Wheeler chép rằng chúa Nguyễn giao hẳn cho các làng chài việc kéo tàu và miễn thuế cho họ để đổi lấy việc ấy.

Chúa nói với Đại Sán một câu đáng ghi lại. Mấy năm trước tàu ngoại quốc đến buôn mỗi năm chừng 6, 7 chiếc, năm nay lên 16, 17 chiếc. Cũng năm ấy, chính Đại Sán tiến cử một người Hoa tên Lưu Thanh lên chúa, và Lưu Thanh được cho làm Cai phủ coi hàng hóa ngoại quốc, theo lệ cũ phải nộp đủ 10 vạn bạc trong 10 ngày. Lưu Thanh đi bức các nơi để có tiền. Khách buôn và chủ thuyền kêu lên, Đại Sán viết giấy xin chúa cách chức ngay người mình vừa tiến cử. Bộ máy thu thuế ở cảng khi ấy đã hơn 170 người.

SỔ SÁCH CUỐI CÙNG1776

Bảng thuế và ba cân chè

Năm 1776, Lê Quý Đôn vào Thuận Hóa với tư cách quan của họ Trịnh, và chép lại hồ sơ họ Nguyễn để lại khi nó còn nguyên trong tay. Phủ biên tạp lục giữ trọn bảng thuế tàu buôn tính theo nơi tàu đến. Tàu Hải Nam vào cửa 500 quan. Tàu Phúc Kiến 2.000 quan. Tàu Thượng Hải và tàu Quảng Đông 3.000 quan. Tàu Ma Cao và tàu Nhật Bản 4.000 quan. Tàu Tây dương 8.000 quan, mức cao nhất cả bảng. Thuế ra cửa, dòng nào cũng vậy, bằng một phần mười thuế vào.

Ngoài thuế còn lệ. Thuyền trưởng cập bến phải biếu chúa 3 cân chè, mỗi vị trong bốn quan Tứ trụ một cân, các quan dưới nửa cân, rồi thêm gấm vóc và đồ quý thường trị giá chừng 500 quan. Bộ máy đứng thu gồm cai tàu, tri tàu, cai bạ, ký lục, sáu cai phòng, ba mươi lệnh sứ và 50 lính thuế. Tiền thuế thu được nộp vào kho chúa 6 phần mười, bốn phần còn lại chia cho quan, lại, quân và dân.

Sổ ấy còn giữ lời một lái buôn Quảng Đông tên Trần Dung. Ông nói từ Quảng Châu gặp gió thuận thì 6 ngày là tới cửa Đại Chiêm. Ra Sơn Nam chỉ mua được củ nâu, vào Thuận Hóa chỉ mua được hồ tiêu, còn Quảng Nam thì không thiếu thứ gì. Giá ghi kèm ngay đó: cau 3 quan một tạ, hồ tiêu 12 quan, kỳ nam hương 120 quan một cân. Hàng nhiều đến mức, lời ông, hàng trăm chiếc tàu to chở cũng không hết.

Cùng cuốn sổ ấy chép luôn cái kết. Năm Tân Mão có 16 chiếc tàu buôn vào cửa Hội An, thuế thu được 30.000 quan. Năm Nhâm Thìn còn 12 chiếc, thuế 14.300 quan. Năm Quý Tỵ còn 8 chiếc, thuế 3.200 quan. Nhưng sổ chép thêm một vế mà mấy con số kia không nói ra: chính hai năm Nhâm Thìn và Quý Tỵ, thuế ra vào cửa đã được giảm, mức giảm từ 1.000 quan cho tới 100 quan. Khoản hụt ấy vậy là vừa vì ít tàu, vừa vì hạ thuế.

SAU BINH LỬA1775 – 1778

Người Anh đến muộn

Đầu năm 1775 quân Trịnh vào Phú Xuân, chúa Nguyễn chạy vào Quảng Nam. Tháng tư quân Trịnh vượt đèo Hải Vân rồi đụng quân Tây Sơn ở Cẩm Sa. Phố cảng nằm đúng giữa hai gọng. Khảo cứu Việt chép rằng quân Trịnh tràn vào tàn phá, nhà cửa phố xá đổ nát và mọi hoạt động của thương cảng ngưng lại.

Tên phố nằm ở góc dưới bên phải: Fai fo, và cửa sông của nó

Năm 1778, Charles Chapman được Toàn quyền Bengal phái sang mở đường buôn. Ông đến muộn ba năm. Chép lại cảnh mình thấy, ông viết rằng thành phố lớn này chẳng còn lại bao nhiêu những khu phố quy củ với nhà xây gạch và đường lát đá, chỉ còn một quang cảnh hoang tàn, và những công trình ấy nay chỉ còn đọng trong ký ức. Tấm hải đồ vẽ kèm chuyến đi của ông ghi tên phố bằng ba chữ Fai-fo, đúng vào lúc cái phố mang tên ấy không còn.

Cảnh ấy không kéo dài mãi. Sau khi quân Trịnh rút về Đàng Ngoài, nhà Tây Sơn dốc sức khắc phục hậu quả chiến tranh, và thương cảng có hồi sinh, dù không trở lại như trước.

NAYTừ thế kỷ XIX

Cảng chết đi, phố còn lại

Cảng thì không về được như cũ. Từ cuối thế kỷ XIX, cửa Đại thu hẹp dần và sông Cổ Cò bị phù sa bồi lấp, thuyền lớn không còn ghé được. Cộng thêm chính sách bế quan tỏa cảng của triều Nguyễn, sự nổi lên của Đà Nẵng và tiền người Pháp đổ vào cảng ấy, Hội An mất dần vị thế. Các nhà nghiên cứu Hội An đều đọc phần còn lại theo cùng một cách: chính việc mất vai trò ấy giữ được mặt phố, vì không còn tiền để phá đi xây lại.

Vẫn dòng nước ấy, nay chở thuyền dọc phố

Cái còn lại của thời Faifo phần lớn nằm dưới mặt đất và trên vách đá. Khảo sát và khai quật từ năm 1990 đến nay tìm được rất nhiều mảnh đồ sứ Hizen của Nhật niên đại thế kỷ XVII ngay trong lòng đất phố cổ, và ngoài phố thì hai di chỉ Trảng Sỏi và Thanh Chiếm cũng cho mảnh cùng lớp. Tấm bia 1640 với 57 cái tên vẫn ở nguyên chỗ nó được khắc. Năm 2022, hệ 78 bia ma nhai Ngũ Hành Sơn được UNESCO ghi vào danh mục Di sản Tư liệu khu vực châu Á – Thái Bình Dương.

Phố Nhật thì không còn dấu nào trên mặt đất. Khi người Việt và người Hoa dựng lại phố từ đống đổ nát, họ dựng theo kiểu nhà của mình. Thứ duy nhất còn đứng từ phía ấy là cây cầu ở cuối con đường mà Thích Đại Sán gọi là Nhật Bản kiều, nay là Chùa CầuĐỊA ĐIỂM · PHỐ CỔChùa CầuNgười Nhật bỏ vốn, thợ Việt dựng, làng người Hoa giữ, một vị chúa cho ba chữ. Qua tám lần hạ giải, chỗ còn gần như nguyên vẹn của cây cầu bốn trăm tuổi là cái móng..

LẦN THEO MẠCH CHUYỆN
CAI QUẢN BỞI · 1558 – 1775Thời các chúa NguyễnTHỜI ĐẠI · ĐÀNG TRONGChín đời chúa cai quản Đàng Trong hơn hai trăm năm bằng một bộ máy sống nhờ biển: thuế đánh vào thuyền buôn ghé cảng, và mỗi năm bảy mươi suất lính đi thuyền câu ra khơi ba ngày ba đêm nhặt hải vật đem về nộp. Khi cảng không nuôi nổi nữa, bộ máy ấy đổ trong ba năm.NƠI Ở CỦA · k. 1617Thương nhân Nhật BảnCON NGƯỜI · CỘNG ĐỒNGCộng đồng người Nhật ở Hội An có ngày mở và có ngày đóng, chuyện hiếm trong kho này. Mạc phủ cấp giấy cho họ đi từ năm 1602 và gọi họ về năm 1635. Mấy người không lên tàu, và mộ của họ vẫn còn trên đất Hội An, do người Việt trông coi.NỐI BỞI · k. 1593Chùa CầuĐỊA ĐIỂM · PHỐ CỔNgười Nhật bỏ vốn, thợ Việt dựng, làng người Hoa giữ, một vị chúa cho ba chữ. Qua tám lần hạ giải, chỗ còn gần như nguyên vẹn của cây cầu bốn trăm tuổi là cái móng.TIẾP NỐI BỞI · sau 1635Khu phố người HoaĐỊA ĐIỂM · KHU PHỐNgười Hoa tới Hội An theo gió mùa và định về theo gió mùa, nên người trong phố gọi họ là người Tàu, nghĩa là người đi thuyền tới. Rồi một số ở lại, và nhà nước phải nghĩ ra một thân phận cho họ.DƯỚI THỜI · 1691 – 1725Nguyễn Phúc ChuCON NGƯỜI · CHÚA NGUYỄNÔng cầm quyền Đàng Trong ba mươi tư năm, mời một nhà sư Trung Hoa sang ở nửa năm rồi cho khắc lời khuyên của người ấy lên bảng treo trước phủ, đi xin một danh vị mà không được, và để lại chữ mình ký trên một quả chuông, một tấm bia, một bài tựa sách và ba chữ trên cây cầu ở Hội An.NẰM TRÊNSông Thu BồnĐỊA ĐIỂM · SÔNGMỗi năm sông Thu Bồn đổ ra biển khoảng 20 km³ nước, nhiều hơn mọi con sông miền Trung, và 80 đến 90% lượng ấy dồn vào bốn tháng cuối năm. Phố cổ Hội An đứng trên một cồn cát do chính con sông này bồi nên.
NGUỒN
  1. Lê Quý Đôn, *Phủ biên tạp lục* (1776), bản dịch Ngô Lập Chí, Khoa Xã hội – Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, 1959, quyển IV — bảng thuế tàu buôn theo xuất xứ, bộ máy tào ty, lễ tiến biếu, và ba năm liền số tàu vào cửa Hội An tụt từ 16 xuống 8. Nguồn xương sống của mục này
  2. Cristoforo Borri, *Relation de la nouvelle mission des pères de la Compagnie de Jésus au royaume de la Cochinchine*, Roma 1631, bản Pháp toàn văn — hội chợ bốn tháng, phố Faifo “lớn đến mức nói có hai phố”, tiền đồng xâu, hộp kim khâu Macao
  3. Thích Đại Sán, *Hải ngoại kỷ sự* (1695), bản dịch Viện Đại học Huế 1963 — dẫn theo khảo cứu của Khoa Văn học và Ngôn ngữ, ĐH KHXH&NV TP.HCM: mặt phố Hội An, số tàu tăng từ 6–7 lên 16–17 chiếc, vụ Lưu Thanh
  4. Trần Văn An, “Nhìn lại vai trò của người Nhật ở thương cảng Faifo – Hội An vào cuối thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII”, Trung tâm QLBT Di sản Văn hóa Hội An, 2019 — nguyên văn danh sách người cúng trên bia Phổ Đà Sơn 1640, bảng châu ấn trạng của Iwao Seiichi, và mục Hoăi Phố trong từ điển de Rhodes
  5. Charles Wheeler, “A Maritime Logic to Vietnamese History? Littoral Society in Hội An’s Trading World c.1550–1830”, *History Cooperative* — hơn 170 người giữ việc quan thuế, xã Minh Hương được lập chính thức năm 1679, làng chài được miễn thuế để kéo tàu, và nguyên văn nhật ký Bowyear
  6. Lưu trữ Quốc gia Nhật Bản, *Ngoại phiên thư hàn* (外蕃書翰), Kondō Jūzō soạn, xong năm 1818 — tờ phụng thư năm 1604 của Nguyễn Hoàng gửi Tokugawa Ieyasu, và bức “Tự Trường Kỳ đáo An Nam quốc thuyền đồ” vẽ thuyền Araki Sotaro
  7. *Ngoại phiên thông thư* (外蕃通書) — mục từ hợp tuyển của kotobank: bộ văn thư ngoại giao Mạc phủ 1599–1764, 27 quyển, trong đó quyển 11–14 dành cho An Nam
  8. 荒木宗太郎 — hợp tuyển sáu bộ từ điển bách khoa Nhật (kotobank): các chuyến 1606, 1610, 1619–1632; vợ ông là con gái nhà ngoại thích họ Nguyễn, không phải con gái chúa
  9. NPO Hội Hữu nghị Nagasaki – Việt Nam, “荒木宗太郎とアニオー姫” — mộ chung ở chùa Daionji và đám rước Anio trong hội Kunchi
  10. 荒木宗太郎 — Wikipedia tiếng Nhật (chép năm mất 1645, vênh với các từ điển; kho theo từ điển)
  11. Nguyễn Hoàng Thân, “Phổ Đà Sơn linh trung Phật — một văn bia quý ở Đà Nẵng”, *Văn Nghệ Đà Nẵng* — số đo bia: 96 × 59 cm, 23 dòng, khắc thẳng vào vách động Hoa Nghiêm năm Canh Thìn 1640
  12. “Những cái nhất ở Đà Nẵng: bia Phổ Đà Sơn linh trung Phật”, Báo Đà Nẵng, 2015
  13. “Độc đáo hệ thống Bia Ma nhai Ngũ Hành Sơn — Di sản Tư liệu Thế giới”, VietnamPlus, 06/12/2022 — 78 bia (76 chữ Hán, 2 chữ Nôm), MOWCAP công nhận ngày 26/11/2022
  14. Nguyễn Chí Trung, “Về danh xưng Faifo - Hội An”, Trung tâm QLBT Di sản Văn hóa Hội An — mọi lối viết tên phố trong tư liệu năm nước, và mốc Faifo thành tên đơn vị hành chính năm 1899
  15. “Danh xưng Hội An có xuất xứ từ Faifo”, Báo Đà Nẵng, 2024
  16. “Cộng đồng thương nhân Nhật Bản tại Hội An thế kỷ XVI - XVII: hình thành, phát triển và suy tàn”, Trung tâm QLBT Di sản Văn hóa Hội An — chừng 60 nóc nhà và 200–300 người ở phố Nhật đầu thế kỷ XVII
  17. “Hội An - trung tâm giao thương khu vực và quốc tế”, Trung tâm QLBT Di sản Văn hóa Hội An — mốc 1644 nhà Thanh thay nhà Minh và các đợt người Hoa xuống phương Nam
  18. “Đồ sứ Hizen - Nhật Bản phát hiện ở Hội An”, Trung tâm QLBT Di sản Văn hóa Hội An — mảnh sứ Hizen thế kỷ XVII trong lòng đất phố cổ, khảo sát từ năm 1990; hai di chỉ Trảng Sỏi và Thanh Chiếm ngoài phố
  19. “Sản vật - thổ sản ở Hội An, Quảng Nam và các quy định về buôn bán được ghi chép trong tác phẩm Phủ biên tạp lục”, Trung tâm QLBT Di sản Văn hóa Hội An
  20. “Thiền sư Thích Đại Sán và tác phẩm Hải ngoại kỷ sự”, Trung tâm QLBT Di sản Văn hóa Hội An
  21. “Khai quật khảo cổ học dưới tàu đắm Cù Lao Chàm - Hội An - Quảng Nam (1997-2000)”, Trung tâm QLBT Di sản Văn hóa Hội An — sáu đợt khảo sát và khai quật, thân tàu gỗ tếch 29,40 × 7,2 m chia 19 khoang, hơn 240.000 hiện vật không vỡ hoặc vỡ ít
  22. “35 năm nghiên cứu, bảo tồn và phát huy giá trị di tích, di vật khảo cổ ở Hội An”, Trung tâm QLBT Di sản Văn hóa Hội An — các khu mộ chum An Bang, Hậu Xá, Thanh Chiếm
  23. Cục Di sản văn hóa, hồ sơ “Di tích kiến trúc nghệ thuật Đô thị cổ Hội An” — các khu mộ chum Sa Huỳnh niên đại quanh 2.000 năm ở Hậu Xá, An Bang, Thanh Chiếm, Xuân Lâm
  24. Nhãn hiện vật mộ chum Hậu Xá II, Bảo tàng Văn hoá Sa Huỳnh, Hội An — đọc từ ảnh: khai quật tháng 5 năm 1994, phường Thanh Hà
  25. “Hội An, thương cảng quốc tế sầm uất bậc nhất khu vực Đông Nam Á”, Người Đô Thị — Lâm Ấp Phố thế kỷ IX–X với thương nhân Ả Rập, Ba Tư, Trung Hoa; quân Trịnh tàn phá năm 1775; cửa Đại và sông Cổ Cò bồi lấp từ cuối thế kỷ XIX
  26. “Nhớ về thương cảng Hội An”, Phố cổ Hội An — nguyên văn tiếng Việt lời Charles Chapman năm 1778, dẫn theo *Kiến trúc phố cổ Hội An*, NXB Thế giới 2003
  27. “Giao thương Việt - Nhật, nhìn từ thương cảng Hội An”, Phố cổ Hội An
  28. “Thương cảng Hội An: Từ thương cảng xưa để nhìn về phát triển kinh tế biển ngày nay”, Phố cổ Hội An — cửa Đại bị bồi cạn và các dòng sông đổi dòng trong thế kỷ XIX
  29. Nguyễn Thị Vinh Linh & Nguyễn Văn Sang, “The Portuguese Influence in Hội An (Vietnam) in Comparison with Malacca (Malaysia) and Ayutthaya (Thailand) during the 16th and 17th Centuries”, *Asian and African Studies* 29:1 (2020) — hạm đội rời Goa năm 1516, Duarte Coelho Pereira khắc chữ ở Cù Lao Chàm năm 1523, chuyến António de Faria 1540, và việc người Bồ chịu mức thuế nhập cao nhất
  30. “Tìm hiểu hoạt động ngoại thương của cộng đồng người Hoa ở Hội An (XVI – XVIII)”, Thánh Địa Việt Nam Học
  31. “Việt sử xứ Đàng Trong: Buôn bán ở Hội An”, Thanh Niên — trích Phan Khoang
  32. “Phong thổ xứ Quảng cuối thế kỷ 17 qua Hải ngoại kỷ sự”, Báo Quảng Nam
  33. Hoàng Ngũ Phúc — Wikipedia tiếng Việt (mốc tháng 4/1775 quân Trịnh vượt đèo Hải Vân, trận Cẩm Sa)
  34. Hội An wreck — Wikipedia tiếng Anh (chép 22 hải lý tính từ bờ; kho theo phép đo 20 km từ đảo của cơ quan khai quật, xem ghi chú phân xử trong sổ dữ kiện)
LỜI NGỎ

Bạn còn cất giữ một tấm ảnh cũ, một tờ báo xưa, hay một câu chuyện về Faifo, thế kỷ thương cảng? Gửi về Hội An Ký qua toiyeuvietnam@msn.com. Vốn quý của Hội An, là nhờ bà con mình cùng gìn giữ.

Gửi cho Hội An Ký →